Chủ trương phát triển kinh tế nông thôn

           Sau khi giành được chính quyền, Đảng và Chính phủ đã quan tâm đến phát triển kinh tê nông thôn, thông qua cuộc cải cách ruộng đất với chủ trương “người cày có ruộng”. Hàng triệu gia đình nông dân từ hai bàn tay trắng, dược chính phủ chia ruộng đất, cung cấp phương tiện lao động, mỗi hộ gia đình nông dân dược chủ động tăng gia sản xuất trên những mảnh dất sở hữu riêng của mình, họ đã phát huy tối da sức lao động của các thành viên trong gia đình, kết hợp với đổi công hợp tác. Trong những năm đầu hòa bình lập lại, nông thôn miền Bắc đã đạt được mức tãng trưởng kinh tế đáng kể, đời sống người nông dân được nâng cao căn bản về chất lượng, bộ mặt làng xóm thay đổi.
          Thời gian này, ở nông thôn miền Bác với phong trào”đẹp làng, tốt ruộng”, “ngói hóa nông thôn”, khắp nơi đường làng ngõ xóm, nhà cửa được xây dựng hoặc sửa lại. Các công trình kiến trúc công cộng của làng xã tuy không hoàn toàn sử dụng với mục đích ban đầu của nó, nhưng cũng được tốn tạo sửa sang và có thêm chức năng mới như: Đình chùa làm lớp học, nhà ủy ban, nhà sản xuất, sân đình làng chuyển sang làm sân phơi v.v… Mỗi hộ gia đình nông dân sau khi thu hoạch mùa màng một phần dùng vào sinh hoạt ăn uống đê tái sản xuất, một phần thì tích lũy cùng với vốn tương trợ xóm làng xây dựng nhà cửa, sân phơi, chuồng trại riêng cho mỗi hộ nhằm phục vụ cho nhu cầu ãn ở tăng gia, phát triển kinh tế gia đình. Chính vì lý do đó mà nhà ỏ nông thôn trong thời gian này, dù nhà to hay nhỏ, đều có chức năng giống nhau; gôm nhà chính (không gian chính) để ngủ và sinh hoạt, nhà phụ hoặc không gian phụ làm kho bếp hoặc sản xuất phụ khác, nhà chuồng trại chăn nuôi và sân phơi sử dụng cho sau thu hoạch của gia đình.
Đến những năm cuối thập kỷ 50 và những năm của thập kỷ 60 ở Việt Nam với chủ trương hợp tác hóa nông nghiệp, mà thực chất là tập thể hóa, nhằm cải tạo xã hội chủ nghĩa nền kinh tế tiểu nông, cá thể của người nông dân, đã xáf lập hình thái kinh tế xã hội chủ nghĩa trong nông thôn và được xem là con đường chuyển nông thôn cổ truyền sang chủ nghĩa xã hội (85).
      Nông thôn đồng bằng Bắc bộ cũng chịu ảnh hưởng chung của chủ trương kinh tế tập thể hợp tác xã nông nghiệp, mà thực chất kinh tế tập thể là tập thể hóa tư liệu sản xuất và tập thể hóa sản xuất kinh doanh.
      Hầu hết, các hộ gia đình nông dân hưởng ứng chủ trương của Đảng và Chính phủ vào hợp tác xã nông nghiệp, đưa toàn bộ ruộng đất được chia sau cải cách ruộng đất cùa mình cùng các tư liệu sản xuất khác như trâu, bò, dụng cụ cày, bừa và một sô’ máy móc khác vào HTX để làm ăn tập thể. Bàng sức mạnh của tập thể, các đường làng, lối xóm được mở rộng thêm phong quang sạch đẹp. Các công trình chung như sân phơi, nhà kho, chuồng trại, trụ sở làm việc của hop tác xã… được xây dựng hầu như đều khắp theo quy mô từ HTX cấp thấp phát triển hợp lại thành quy mô HTX cấp cao rồi lại trở về HTX quy mô vừa.
         Đặc biệt nhà ở hộ nông dân, đơn vị cấu thành làng xã có sự chuyển biến lớn về căn bản đó là chức năng sản xuất trong không gian nhà ở bị xem nhẹ. Nguyên nhân là tập thể hóa tư liệu sản xuất và tập thể hóa sản xuất. Sân phơi của các hộ gia đình lúc này là không cần thiết, đã có sân phơi tập thể. Chuồng trại nuôi trâu bò cũng không cần vì trâu bò đã công hữu vào HTX. Không gian sản xuất phụ cũng không cần thiết vì bản thân hộ nông dân không còn tư liệu sản xuất ở nhà nữa, mặt khác thời gian lao động bị cuốn hút vào công việc sản xuất HTX, thời gian rảnh để chủ động tăng gia coi như không có, ngôi nhà nông thôn bị “khô cứng”, gằn như ngôi nhà ỏ tập thể của công nhân và bị bỏ chức năng truyền thống của mình trong quàn cư làng xã nông thôn. Ngôi nhà nông thôn trong thời gian này được thu gọn trong phạm vi không gian ở và sinh hoạt. Đó là khía cạnh hạn chế của kinh tế tập thể HTX trong gần 30 năm qua.
         Chỉ thị 100 của Ban bí thư, Nghị quyết 10-BCHTW và Nghị quyết VI của Ban Chấp hành Trung ương Đảng thừa nhận hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ (85). Như vậy, chính sách mới đã trả lại cơ chế kinh tế tư nhân cho người nông dân, xác định lại địa vị chủ thể kinh tế của họ. Người nông dân từ đây được tự do, chủ động hoàn toàn trong việc lựa chọn, quyết định vận mệnh của mình – Khởi điểm cho sự tăng trưởng kinh tế là sự tiến hóa trong đời sống mới ở nông thôn, từ kinh tế theo kiểu “tự cung, tự cấp” cổ truyền sang nền kinh tế hàng hóa. Mặt khác, việc trả lại quyền chủ thể về kinh tế cho nông dân chính là đã trả lại nghề nghiệp, sự sáng tạo cho họ. Đây là điều kiện tiên quyết khi nền kinh tê chuyển đổi sang nền kinh tế sản xuất hàng hóa nhiều thành phần, là một bước ngoặt mới trong đời sống vật chất cũng như tinh thần từ đó đem lại những đổi mới lớn lao, có ảnh hưởng trực tiếp đến bộ mặt quy hoạch, kiến trúc nông thôn.
          Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, chủ trương “Tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế – xã hội nông thôn” và đề ra phương hướng và giải pháp cụ thể là đổi mới cơ cấu kinh tế nông nghiệp, cải biến cơ cấu kinh tế nông thôn, kiên trì và nhất quán thực hiện chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước và … “Thực hiện chính sách giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho hộ nông dân” (7). Với tinh thần như vậy có thể nói đây như là “cuộc cải cách ruộng đất Tân thứ hai”. Người nông dân lại chính thức được nhận ruộng lâu dài. Họ hoàn toàn được tự do xoay xở làm ăn trên mảnh đất của mình và từ đó sẽ tạo ra được hiệu quả cao nhất. Cũng từ đây toàn xã hội nông thôn sẽ có biến chuyển lớn về mọi mặt. Kiến trúc làng xã nói chung, nhà ở trong làng xã nói riêng trở lại với chức năng truyền thống tối ưu vốn có của nó, mặt khác qua chủ trương mới của Đảng, Chính phủ sẽ hình thành mô hình làng xã mới theo hướng tiếp nhận tiến bộ chung của xã hội, với những ngôi nhà có thêm chức năng mới sẽ phục vụ cho mọi hoạt động kinh tế – xã hội ở nông thôn có đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần ngày càng cao.