Đặc điểm dân cư, trình độ dân trí với con đường xây dựng nông thôn mới

Qua tài liệu điều tra các tỉnh thuộc đồng bằng Sông Hồng là một vùng có nhiều thành phố, thị xã và thị trấn lớn, đồng thời cũng là nơi có tỷ lệ dân cư tập trung cao để phân tích và nhận định, thấy rằng:
• Bình quân toàn vùng là 1085 người/lkm2,có dân số trung bình 13.517.640 người, trong đó số dân thành thị là 2.346.840 người và dân nông thôn: 11.170.800 người (97) chiếm gần 82%.
• Tuy vậy tỷ lệ dân cư giữa thành thị và nông thôn trong vùng không đồng đều. ơ Hà Nội tỷ lệ dân cư nông thôn là 48%, ở Hà Tây chiếm 93%, Thái Bình là 94%, Hải Dương và Hưng Yên đến 95% (Xem bảng A).

Với sô’ liệu điều tra, tổng hợp như trên thấy rằng (trừ hai thành phố Hà Nội và Hải Phòng) đại bộ phận các tỉnh trong vùng tỷ lộ dân cư nông thôn đều lớn hơn 90%, do đó khẳng định tỷ lệ lao động nông nghiệp và lối sống sản xuất nông nghiệp, nông thôn vẫn áp đảo, bao trùm trên toàn thể các mặt trong hoạt động kinh tế-xã hội và phổ biến gần như toàn khu vực. Xét về khía cạnh dân cư đô thị, tỷ lệ trung bình toàn vùng mới đạt 18%, (số liệu của năm 1992). Nếu đem so sánh với biểu đồ phát triển dân cư đô thị thế giới thì chỉ tương đương với thời gian những năm tám mươi của thế kỷ XIX (Xem biểu đồ phát triển dân cư đô thị Việt Nam và thế giới (hình II. 11).

Như vậy theo thời điểm hiện tại chậm hơn so với sự phát triển chung thế giới khoảng 100 năm; nằm trong giai đoạn đầu giai đoạn quá độ của thế giới. Chính vì thế một số mặt về chủ quan chưa thoát khỏi hạn chế của thời điểm lịch sử như mặt bằng kinh tế, nội tại con người và xã hội… nông thôn cũng như toàn vùng, không thể bỏ qua trình tự của sự phát triển. Mặt khác, với yếu tô’ khách quan được thừa hưởng điều kiện văn minh chung của khu vực và thế giới, có thể tiếp thu, ảnh hưởng tạo bước nhảy vọt trong quá trình phát triển kinh tế xã hội mà không phải đi tuần tự từ làn sóng văn minh thứ nhất (văn minh nông nghiệp) qua làn sóng văn minh thứ hai (văn minh công nghiệp) rồi đến làn sóng văn minh thứ 3 (văn minh dịch vụ) song cũng sẽ không bỏ qua làn sóng văn minh thứ ba mà đi theo làn sóng văn minh trung gian giữa hai và ba. Theo nhận xét của nhà xã hội học nông thôn Tô Duy Hợp đây là phương án rút ngắn thời gian lịch sử tự nhiên đã được thực thi thành công ở nhiều nước công nghiệp hóa kiểu mới, nhất là ở Trung Quốc và 4 con rồng Châu Á.
Con đường phát triển kinh tế – xã hội ở nông thôn sẽ mang hai tính chất, đan xen lồng ghép giữa cổ điển và phi cổ điển, giữa quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa với quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, giữa công hữu và tư hữu, công ích và tư lợi, và điều cơ bản nhất ở nông thôn là giữa sản xuất nông nghiệp với sản xuất phi nông nghiệp (nông với công thương). Do đó con đường xây dựng nông thôn mới ở giai đoạn này cung đan xen lồng ghép giữa hai phần “thị và thôn” trong cơ thể làng xã. Đó là con đường chuyển hóa cách mạng mới ở nông thôn theo phương hướng phổ biến, tại chỗ và mang hai tính chất trong một đối tượng, nó rộng lớn chứ không to lớn, để phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội ở nông thôn Việt Nam nói chung và vùng đồng bằng Bắc bộ nói riêng. Đó cũng là con đường, là hướng đi chủ đạo trong việc quy hoạch và xây dựng nòng thôn mới.
+ Trình độ dân trí của nông dân với sự phát triển nông thôn
Tuy với số dân nông thôn chiếm hơn 90% dân cư trong toàn thể nhưng với chính sách ưu việt về giáo dục của Đảng và Chính phủ, ở mỗi làng xã đều có từ một đến nhiều trường phổ thông cấp I và II. Nhiều xã lớn còn có cả trường cấp III. Với chính sách hỗ trợ và khuyến khích học tập nên hầu hết dân cư nông thôn đều có trình độcấp I và II phổ thông cơ sở, còn lại trung bình từ 5 đến 15% là có trình độ chuyên môn khác.
Qua điều tra trình độ học vấn và giao tiếp xã hội với việc phát triển kinh tế xã hội ở nông thỗn tỉnh Thái Bình (96) nơi có những đặc điểm tiêu biểu cho vùng đồng bằng Bắc bộ ta thấy rằng:
Các nhóm có mức sống trung bình và thấp (thu nhập thấp từ 3-5 triệu/hộ/nãm) thường có cách thức làm ãn dựa vào khai thác nguồn nhân lực gia đình mà không tính hiệu quả kinh tế. Nhóm này thường có trình độ học vấn thấp (thường từ cấp I trở xuống) ít thoát li, hoặc thoát li mà không có vị trí xã hội và công tác đáng kể (công nhân bậc thấp) họ ít có những tiện nghi sinh hoạt văn hóa như ti-vi, radiô, cassette, v.v… Họ ít đi xa và ít quan hệ làm ăn hay bạn bè ở nơi xa. Họ không mấy quan tâm đến thời sự, chính trị, dịa lý kể cả cách làm ãn, giá cả thị trường. Còn ở các nhóm có mức thu nhập khá trở lên (trên 5-10 triệu/hộ/nãm) được coi là các nhóm sản xuất cốnăng suất cao. Nhóm này thể hiện trình độ học vấn và hiểu biết cao hơn (thường từ cấp II cũ). Có kinh nghiệm và vị trí công tác xã hội trong xã hay thoát li. Họ có tiền và có trình độ nhận thức nên đã sắm sửa các thiết bị, tiện nghi phục vụ cho đời sống văn hóa và có sự hiểu biết về thông tin. Sự bố trí xây dipig nhà cửa có nội dung phù hợp hơn. Họ thích giao tiếp và quan hệ rộng rãi. Điều quan trọng là họ luôn hướng tới sự tìm tòi sáng tạo mà không ỷ lại, bắt chước. Họ là tầng lớp có ánh hưởng quan trọng nhất trong nông thôn.
– Riêng nhóm giàu có ở nông thôn tuy ít ỏi (thu nhập từ 15 triệu/hộ/năm trở lên) nhưng rất phức tạp bởi cách thức làm giàu, phong cách sống và quan hệ xã hội của họ rất rộng nhưng lại ít mang tính quần chúng. Cuộc sống của họ hướng về giá trị kinh tế hơn và gắn hơn với đời sống đô thị. Nhóm này ít chú trọng đến trồng trọt chăn nuôi, mà chỉ coi chúng là phương án dự phòng. Nhà ở của họ xây dựng khang trang, hê thế gần như biệt thự, kín cổng cao tường. Do sống ở nông thôn nhưng giàu quan hệ và biết cách kinh doanh nên họ thường làm các nghề thầu khoán đại lý hơn là sản xuất và buôn bán trực tiếp. Đây là nhóm có trình độ học vấn hoặc nhận thức làm kinh tế nhanh có đàu óc tổ chức sản xuất và kinh doanh giỏi. Họ có xu thế hướng ngoại hơn là hướng nội, muốn di chuyển đến các nơi thị thành. Vì thế nên họ là hạt nhân rất cố nguyện vọng và ủng hộ xây dựng làng xã họ sinh sống thành điểm đô thị nhỏ, chính họ là các thành viên quan trọng trong việc hình thành các điểm thị dân này.