Đặc điểm địa hình và sự phân bổ dân cư làng mạc.

     Đồng bằng Bác bộ nằm ở trung tâm của miền Bắc Việt Nam, hình dạng giống như một tam giác cân mà đỉnh là Việt Trì, đáy là đường giáp bờ biển Ninh Bình, Nam Hà, Thái Bình, Hải Phòng và Quảng Ninh chiều dài 150km, mỗi cạnh bên dài 180km, với diện tích khoảng 1.500 km2. Đây là một vùng đất tương đối màu mỡ được bồi đắp bởi phù sa của hệ thống sông Hỏng và sông Thái Bình (xem bản dồ hình II. 1).

Đặc điểm địa hình và sự phân bổ dân cư làng mạc. 1

      Đồng bằng Bác bộ tương đối bằng phẳng và hơi nghiêng ra biển theo hướng tây bắc – đông nam. Tính từ Việt Trì ra đến biển độ cao giảm trung bình 15-20 cm/lkm (hình II.2).
Có thể chia đồng bằng Bắc bộ thành 3 khu vực lớn là vùng sát trung du vùng trung tâm và vùng giáp ven biển.

Hình II.2. Địa hình khu vực đòng bằng Bắc bộ

         Vùng sát trung du là vùng đất tương đối cao, gồm đồi thấp xen lẫn thung lũng chạy theo dải từ nam Thái Nguyên, nam Bắc Giang, Phú Thọ, vòng xuống Chợ Bến,Hà Tây. Vùng này có tính chất chuyển tiếp giữa miền núi và đồng bằng nên đồi xen ruộng, ruộng ít và xấu nên việc trồng lúa gặp rất nhiều khó khăn, năng suất thấp.
Cư dàn phân bố tập trung thành những thôn xóm, làng xã bám tựa vào những gò, đồi thoải xung quanh là rộc ruộng thấp xen các bãi hoặc tập trung dọc hạ lưu các con sông bên các soi ruộng chạy dài theo sông, hay bám theo các con đường giao thông trong khu vực. Ngoài ra dân cư còn ở rải rác thành những làng nhỏ xếp theo tuyến đường qua những cánh đồng lớn.
         Khác với vùng sát trung du, vùng giáp ven biển là các đáy của tam giác châu thổ phù sa trẻ, nhiều chỗ đang trong quá trình hình thành; Đất thấp, bằng phẳng, thuận lợi cho việc tưới tiêu nước nên có thể trồng cây hai mùa bình thường, nhất là trồng lúa và một số cây phục vụ cho thủ công nghiệp. Vùng này bao gồm các huyện thuộc phía nam và đông nam tỉnh Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình, Hải Phòng và phần nhỏ phía nam Quảng Ninh.
Vùng trung tâm đông bằng bao gôm khu vực Hà Nội, tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, phân phía nam tỉnh Bác Giang và phía bắc tỉnh Thái Bình, Nam Định. Đây là vùng châu thổ khá cổ và ổn định với độ cao thay đổi từ 3 đến 15m. Vùng này tương đối xa biển và khá bằng phẳng, đất đai canh tác được hai đến ba vụ lúa cũng như các vụ màu khác. Đồng ruộng xen lẫn ao, có điều kiện tốt cho việc chăn nuôi thả cá.
       Vùng trung tâm đồng bàng Bắc bộ cũng như vùng đồng bằng giáp ven biển là nơi có đất đai phì nhiêu màu mỡ rất thuận tiện cho sản xuất nông nghiệp. Chính vì điều kiện thuận lợi đó mà mật độ cư dân sống tập trung ở vùng này rất cao, đất đai trồng trọt trở nên vô cùng quý hiếm. Theo số liệu điều tra dân số nãm 1989, các tỉnh có mật độ dân số cao gồm các tỉnh Thái Bình, Hải Hưng nay là Hải Dương và Hưng Yên, Hà Nam Ninh nay là Hà Nam (Nam Định và Ninh Bình)… (86) nơi có mật độ cao nhất là Thái Bình đến 1065 người/lkm2, còn trung bình mật độ dân số trong vùng đồng bằng Bắc bộ là 784 người/lkm2.
         Vùng trung tâm đồng bằng và đồng bằng giáp ven biển, dân cư cùng sống quy tụ thành những làng, những xóm thôn nàm rải rác hoặc quy tụ nhiều làng xã liên hoàn với nhau, có những làng nằm đơn độc giữa cánh đồng, nhưng dại thể các làng xã đều nằm thành chuỗi diểm theo trục giao thông hoặc bám theo địa hình sông, kênh, mương hoặc những con đê trong vùng (xem hình 1.9, 1.10, 1.11 và 1.15 – Mặt bằng hiện trạng phân bố dân cư huyện Đông Hưng .Thái Bình).
Điều nổi bật ở các làng xóm cư dân là sự phân bố tự nhiên gần như rải đều trên mặt bằng canh tác vùng đồng bằng Bắc bộ. Khác hẳn với các vùng ở miền núi, trung du là đất canh tác nông nghiệp cơ bản không lẫn với đất ở, mà nhà ở của các hộ san sát tiếp nối nhau theo đường làng ngõ xóm với cư dân đa phần người Việt.
Nhận xét:
Đồng bằng Bắc bộ là một vùng có thổ nhưỡng phì nhiều, có diều kiện cho phát triển nông nghiệp nói chung và trồng lúa nói riêng, là nơi cung cấp lương thực, thực phẩm chính cho khu vực và xuất khẩu, đồng thời cũng là nơi có điều kiện địa lý, sông ngòi, địa hình bằng phẳng thuận lợi cho giao thông đi lại và phát triển về kinh tế khác. Đồng bằng Bắc bộ đất chật, người đông, là nguồn cung cấp nhân tài, vật lực lớn nhất trong khu vực. Trong điều kiện mật độ dân cư lớn, việc sản xuất nông nghiệp cần phải thâm canh, tăng vụ, đồng thời phải đưa kỹ thuật và phương tiện sản xuất tiên tiến vào nông nghiệp. Mặt khác phải chuyển đổi ngành nghề khác như dịch vụ và sản xuất hàng hóa trong nông thôn.