Đặc điểm làng mạc dân cư, văn hóa xã hội xã Liên Minh

a) Đặc điểm địa hình tự nhiên
Liên Minh là một xã miền đồng bằng Bắc bộ thuộc huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định, phía Bắc giáp xã Liên Bảo và Kim Thái qua con sông Hương, phía Đông giáp xã Thành Lợi và Đại Thắng qua con sông Chanh, phía Tây giáp xã Tam Thanh qua con sông Câu Đen, phía Nam nối liền với xã Yên Phúc (thuộc huyện Ý Yên) và xã Vĩnh Hào. Chiều dài Bắc Nam cũng như Đông Tây khoảng 3km. Diện tích toàn xã xấp xỉ 10,3km (1026,32 ha).
Địa hình xã Liên Minh vuông như bàn cờ. Trong xã có sông, có núi bao quanh các đông lúa và đồng màu, phía Bắc địa hình cao (nhiều đồng màu) thoai thoải về phía Nam (nhiều đồng chiêm trũng). Làng xóm và đồng ruộng xen kẽ nhau như những lượn sóng từ Bắc xuống Nam.
Liên Minh nằm giữa đồng bằng sông Hồng, chịu ảnh hưởng của các chế độ gió mùa. Từ tháng 11 đến tháng 3 gió mùa Đông Bác, trời rét và khô, nhiệt độ trung bình 19°c. Đầu mùa thỉnh thoảng có sương muối. Cuối mùa gió Đông Bắc không mạnh nhưng kéo dài, ngày độ ẩm cao, gây mưa phùn rét mướt và ẩm ướt. Khí hậu thời tiết này thuận lợi phát triển cây trồng. Từ tháng 4 đến tháng 10 gió Đông Nam, nhiệt độ trung bình 25°c, mưa nhiều, mưa giông là chủ yếu. Tháng 8, tháng 9 mưa ngâu sập sùi hai ba ngày, có khi kéo dài hàng tuần lễ. Trước đây thường gây úng lụt. Sau thời kỳ hợp tác hóa, thủy lợi hóa, vùng Liên Hòa, Đồng Xuyên, Tam, Tứ Giáp không còn cảnh “Sáu tháng đi bàng chân, sáu tháng đi bằng tay nữa”
Sông ngòi trong xã tạo nên một mạng lưới thủy lợi tưới tiêu kịp thời. Sông Chanh còn gọi là sông Vĩnh Giang chảy qua Liên Minh về phía Đông qua cầu Chuồi đổ vào sông Đào. Theo tài liệu ghi chép ở làng xã Yên Minh, trước kia đoạn sông chảy qua làng gọi là sông Cửu Khúc, sông quanh co chín khúc lượn sát làng An Lễ, Trung Nghĩa rồi vòng xuống ven làng Thượng Linh (xã Đại Thăng), về Tứ Giáp qua cầu Ngô xuôi về phía Nam dọc Liên Hà đổ vào cửa biển Côi Sơn. Từ thế kỷ XVIII ông nghè làng Si (Vĩnh Hào) Phạm Kim Kính đã khai giang từ cầu Chuồi xuống cầu Ngô, cho chảy xuống làng Si nhập vào sông Đào. Sông Cửu Khúc xưa còn để lại nhiều dấu tích ở những ô trũng, ao hồ trong các cánh đồng ven phía nam Hào Kiệt và Liên Hòa.
Phía Bắc làng có sông Hương chảy từ sông Chanh qua làng Định Trạch, Cao Phương qua cầu Kênh, cầu Đen vòng xuống phía Nam. Đầu thế kỷ XV, nhân dân còn đào thêm một con sông nhỏ khác giữa cánh đồng Lương Kiệt và Liên Hòa đổ xuống sông Chanh. Trong làng có nhiều hồ ao chuôm nối nhau chạy dọc theo các xóm, phần lớn là dấu tích của các dòng sông, của các con ngòi xưa kia được bồi đắp lại. Vì thế nhìn trên tổng thể hiện trạng toàn xã Liên Minh thấy giữa các làng xóm là các mảng ao chuôm, ruộng vườn đan xen hình da báo được nối với nhau xuyên qua các làng bằng những con đường làng.
Đây là điều kiện thuận lợi cho việc quy hoạch làng xã theo nhiệm vụ yêu cầu trên.
b) Đặc điểm làng mạc dãn cư, Văn hóa xã hội xã Liên Minh
Xã Liên Minh là một xã được hợp nhất gồm 11 xóm (Trung Nghĩa, Nhị Giáp, Tam Giáp, xóm Tứ Giáp\An Lễ, xóm Tân, xóm Tiến, xóm Tượng, Ngũ Trang, Vân Bảng và Hổ Sơn).
Một số xóm lớn như Vân Bảng, Tam Giáp, trước kia là một làng, có đầy đủ những công trình công cộng thể hiện là một làng hoàn chỉnh như chùa làng và đình làng (Hiện nay vẫn còn di tích đó là ao chùa, ao đình và rìên cũ của chùa) xem sơ đồ biến đổi làng xã Liên Minh.
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, các làng ven đường quốc lộsố 10 bị giặc phá trụi sạch, biến thành vành đai trắng. Khi hòa bình lập lại năm 1954 các làng này mới được phục hồi, nhưng không còn mấy hiện trạng như cũ.
Ngoài ra do chủ trương hợp tác hóa nông nghiệp theo mô hình hợp nhất cấp cao của những năm 70 cơ cấu làng ở xã Liên Minh cũng bị lãng quên, thay thế bằng tổ chức đội sản xuất, hợp tác xã, làng lớn trở thành xóm, xã nhỏ sát nhập thành xã lớn và lấy tện là xã Liên Minh.
Xã Liên Minh được tổ chức gồm 3 hợp tác xã nông nghiệp thuộc 3 thôn (cơ sở là 3 làng xã cũ) Hào Kiệt, Lương Kiệt, Liên Hòa chịu sự chỉ đạo trực tiếp của xã Liên Minh.
Tuy vậy nhận thấy trên hình thể cụm dân cư vẫn rất rõ khu vực làng xóm cũ.
Xã Liên Minh có 2473 hộ với 9296 nhân khẩu (50).
Hiện tại nghề nghiệp chủ yếu của nhân dân trong xã làm nghề nông nghiệp. Theo sô’ liệu điều tra của xã thì hiện có: 11,2% hộ làm nghề phi nông nghiệp. Nhưng xét trên góc độ chi tiết các thành viên trong hộ thì đa phần hộ nào cũng có thành viên làm nghề phi nông nghiệp, hoặc nghỉ hưu mất sức, bộ đội xuất ngũ v.v…
Là một xã gần các đô thị lớn như thành Nam Định (cách 1lkm): Thị trấn huyện lỵ Gôi huyện Vụ Bản (cách 3km) Liên Minh có truyền thống văn hóa từ lâu. Thời nào cũng có người học hành cao và đỗ đạt giữ những chức vụ quan trọng của Nhà nước. Các nhà văn Vũ Tú Nam, Vũ Cao, nhạc sĩ Văn Cao, Văn Ký, nhà ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch, tướng Song Hào v.v… cũng là người xuất thân từ xã Liên Minh này.
Liên Minh là một xã đạt danh hiệu anh hùng trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước, đồng thời cũng là một xã có nhiều người con có công với đất nước, có truyền thống cách mạng kiên cường hăng hái tham gia các phong trào, chủ trương của Đảng và Nhà nước.
Hiện nay trong xã có một trường cấp II và hai trường cấp I, một trường bổ túc văn hóa, một trường mầm non, là một xã đi đầu trong việc xóa nạn mù chữ và phổ cập cấp II. Điều thuận lợi cho Liên Minh là có một trường cấp III của huyện Vụ Bản, tại xã có kho dự trữ
Quốc gia Cl5, có bệnh xá miền hạ của huyện, làm cho sinh hoạt học tập thuận lợi mặt khác về kiến trúc cũng góp phần cho xã Liên Minh thêm những công trình làm phong phú bộ mặt kiến trúc làng xã.
Vê kiến trúc tại cấc làng xã của xã Liên Minh nói chung trong thời kỳ trước khi chuyển đổi kinh tế thị trường (trước khi có phương án quy hoạch) được thể hiện rõ các đặc điểm sau:
– Các công trình công cộng: xã Liên Minh chủ yếu là nhà cấp 4 do dân làng xã tự xây. Trung tâm là UBND xã, và các nhà kho, sân phơi phân bố về các hợp tác xã và đội sản xuất, các trạm bố trí ngoài làng giữa cánh đồng. Các nhà trẻ, trường học cấp I, II quá cũ nát không còn phù hợp với nhu cầu cấp thiết của sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường về chất lượng nhà và sự phân bố trong làng xã.
Các công trình tín ngưỡng và sinh hoạt công cộng như đình, chùa của làng, xã bị phá hủy hoặc lãng quên trong thời kỳ trước thì nay dân có xu thế muốn xây dựng và tôn tạo lại.
Đường liên thôn, liên xã ở khu vực xã Liên Minh bao gồm 2 tuyến chính xuyên qua các thôn (làng xưa) đều ở tình trạng hẹp mặt đường xấu chưa được cải tạo.
Hệ thống điện hiện tại đã trang bị đều đến các hộ. Điện thoại mới có ở mức độ cho các điểm công cộng như UBND xã.
Nhà ở của nhân dân, chủ yếu vẫn là nhà cấp 4 (đã ngói hóa) gần như toàn bộ. Gần đây trong thời kỳ kinh tế thị trường mới xuất hiện một số nhà mái bằng kiên cố 2 đến 3 tầng làm theo kiểu đô thị, ngoài ra lác đác trên trục đường liên thôn, xã xuất hiện một số nhà trổ cửa ra đường làm Têu quán để kinh doanh và dịch vụ, nhưng chỉ tụ tập ở một số điểm trung tâm, gần chợ, tiện đi lại với quy mô nhỏ, lẻ tẻ. Đây cũng là điểm báo của sự biến động kiến trúc nhà ở nông thôn tại xã do nhu cầu phát triển kinh tế thị trường.
c) Tình hình phát triển kinh tế
Liên Minh là một xã điển hình cho địa bàn “đất chật người đông”, có tỷ lệ bình quân đất đai canh tác thấp: chỉ xấp xỉ 2 sào trên một đầu người (103). Đã vậy diện tích đồng chiêm trũng không thuận lợi cho trồng trọt chiếm 75% tổng diện tích canh tác.
Ớ xã Liên Minh, người dân chủ yếu làm nghề trồng lúa và trồng màu. Nhưng trồng lúa màu trên diện tích canh tác thấp như vậy dù sản lượng cao mấy cũng không thể làm giàu hóa hoàn toàn bằng độc canh. Vì thế từ lâu nhiều hộ đã tự điều tiết bằng cách đi làm thêm, làm thuê hoặc bằng mọi giá phải thoát ly đi công tác ở mọi nơi để giảm bớt nhân khẩu ở nhà làm ăn trên đất sản xuất nông nghiệp – như ra thành phố Nam Định hoặc đến các tỉnh khác sinh sống.
Trong những năm gần đây thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, nhất là từ khi có Nghị quyết 115 và 376 của UBND tỉnh Nam Hà (địa danh cũ) giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho hộ nông dân, tình hình phát triển kinh tế nói chung ở xã Liên Minh có chuyển biến rõ rệt. Vì rằng đây là động lực mạnh mẽ thúc đẩy bà con nông dân xã yên tâm lao động sản xuất,đầu tư và chủ động về mọi mặt cho phát triển kinh tế hộ của mình. Lương thực bình quân đầu người lên tới 520 kg/1 người/năm các sản xuất khác như chăn nuôi gia súc gia cầm cũng phát triển với tổng đàn lợn 3371 con, đàn trâu bò cày kéo, lấy thịt 542 con, gia cầm 27.400 con và chăn nuôi cá đạt đến 25 tấn (52).

 Những xuất phát điểm của việc đê xuất phương án thiết kế
– Xuất phát từ yêu cầu đời sống xã hội ngày một nâng cao của chính dân cư trong làng xã Liên Minh. Người dân làng có điều kiện kinh tế muốn có một môi trường ở tiện nghi như ở các đô thị, nhưng vẫn ở chính làng vẫn tồn tại mối quan hệ sinh hoạt và sản xuất đã có từ bao đời ở trong làng xã. Đồng thời cũng xuất phát từ yêu cầu đời sống xã hội ngày càng nâng cao của dân cư trong làng xã đòi hỏi cần có một trung tâm dịch vụ, buôn bán, trung tâm văn hóa chính trị phục vụ cho cuộc sống hàng ngày của người dân làng nói chung.
Xuất phát từ yêu cầu của chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong đó có chuyển đổi cơ cấu ngành nghề của người dân trong làng xã cần có một môi trường làm nghề buôn bán, trao đổi hàng hóa nông, công nghiệp lưu thông giữa làng xã với khu vực xung quanh. Môi trường làm nghề đó là nhà có cửa hàng, nhà ở kiêm nơi sản xuất nhỏ… (như phần phân loại nhà ở thị tứ) Môi trường, thị trường là chợ là nơi giao dịch để trao đổi nông sản hàng hóa v.v…
Ngoài ra cũng do yêu cầu chuyển đổi kinh tế ở nông thôn có sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, mà đòi hỏi có điều kiện thuận lợi cho việc chuyển đầu tư vào lĩnh vực đó của dân làng: như nhà ở vườn, hình thành phố vườn, để tận dụng và phát huy hết điều kiện sẵn có của dân làng về lĩnh vực chăn nuôi trồng trọt.

Xem thêm: Bán nhà Hà Nội giá rẻ