Khái niệm về thị tứ làng xã

 Khái niệm về thị tứ làng xã
Thuật ngữ “Thị tứ” thực ra mới dược dùng nhiều ở một số tài liệu nghiên cứu và văn bản trong những năm gần đây khi có chủ trương phát triển kinh tế thị trường. Tuy vậy chưa có một tài liệu nào nghiên cún một cách toàn diện, khoa học và định nghĩa hoàn chỉnh. Kể cả từ điển Tiếng Việt mới xuất bản cũng không có, ngay trong nội dung phân loại Đô thị của Bộ Xây dựng, thị tứ cũng chưa dược nghiên cứu, xem xét phân cấp theo một loại hình nào.
Trong thời gian qua, đâu dó thuật ngữ “Thị tứ” được sử dụng coi như trung tâm cùa một vùng hay một tiểu vùng hoặc coi thị tứ là một điểm dân cư nhỏ kiểu đô thị mới nằm bên các ngã tư giao thông chính hay là điểm đô thị mới dưới cấp thị trấn như trong vãn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóaVII (54).
Cũng thời gian này hưởng ứng và thực hiện chủ trương, nghị quyết VII của Ban chấp hành Trung ương Đảng về việc xây dựng nông thôn mới, ngày 6/9/1994 UBND tinh Hải Hưng (tên tỉnh cũ) có ra quyết định số 1521/QĐ-UB quy định tạm thời về tiêu chuẩn quy mô hình thành một thị tứ, (99) đã đưa ra khái niệm:
“Thị tứ là trung tâm kinh tế văn hóa xã hội của một vùng hay tiểu vùng có tính chất đô thịở nông thôn đã được hình thành trong làng xã có công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp hoặc dịch vụ phát triển, có hệ thống giao thông thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế trong vùng hoặc với đô thị lân cận, thực tế đã hoặc có khả năng trở thành trung tâm kinh tế văn hóa của một vùng, tiểu vùng trong khu vực nông thôn.
Vê mặt địa giới, thị tứ có thể hình thành và nằm trong địa phận một xã hoặc nhiều xã giáp nhau hợp thành, tương lai có thể phát triển thành thị trấn” (99)
Theo quyết định này thì thị tứ vẫn chỉ được quan niệm là “Trung tâm kinh tế văn hóa xã hội của một vùng hay tiểu vùng”, mà không rõ đơn vị hành chính.
Theo quan điểm của tác giả: Thị tứ là một mô hình trung tâm mới của làng xã – đơn vị hành chính là chỉ nằm trong làng của một xã, lấy dân cư phi nông nghiệp và bán phi nông nghiệp đã hình thành và có triển vọng hình thành làm cơ sở tiêu chí (Mặt khác việc xây dựng thị tứ làng xã sẽ là điều kiện thuận lợi cho sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế, trong đó thúc đáy chuyển đổi cơ cấu dân cư từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp và chính thị tứ làng xã là thị trường ở khu vực nông thôn, là môi trường đưa khoa học kỹ thuật vãn minh, công nghiệp vào địa bàn nông thôn.
Do đó, thị tứ làng xã phải định hình trước theo điều kiện của mỗi làng xã, chứ không bị động theo thị tứ hình thành rồi mới xác định quy mô, tiêu chuẩn công nhận sau, và cũng khôim phải là trung tâm chung của cụm xã . Đây cũng là điểm khác biệt căn bản của thị tứ làng xã.
Vì thế: Thị tứ làng xã được định nghĩa như sau:
Thị tứ làng xã là điểm dân cư tập trung đã và đang xảy dựng mang tính chất đô thị trong làng xã, có tỷ lệ dân cư phi nông nghiệp và bán phi nông nghiệp lớn hơn 50%, lù trung tâm tổng hợp kinh tế, xã hội hay trung tâm chuyên ngành cố vai trò thúc đẩy phút triển chung cho làng xã đố. Bước đầu xây dựng một sô’ công trình công cộng và hạ tằng kỹ thuật thích ứng với quy mô phát triển.
• Thị tứ xây dựng trong làng cho nên gọi là Thị tứ làng xã
• Thị tứ là điểm dân cư mang tính chuyển tiếp giữa thành thị và nông thôn ở Việt Nam (xem sơ dồ hình III.2a, b).
• Thị tứ là một dạng”đô thị mi ni” xếp hàng thứ tư sau thị trấn, theo thứ tự: Thành phố, thị xã, thị trấn và thị tứ (xem sơ đồ mối quan hệ hình III.2c).
• Thành phần cơ bản cấu thành thị tứ là nhà ở của dân cư phi nông nghiệp và bán phi nông nghiệp ở trong làng xã.
+Quan hệ hành chính của thị tứ
Phần “cơ cấu làng xã” đã phân tích sự bền vững của mô hình làng trong quá trình phát triển điểm dân cư nông thôn. Thị tứ là điểm “dỗ thị mini” nằm trong phạm vi làng xã, có quan hệ trực tiếp đến đời sống kinh tế, văn hóa xã hội và tâm tư tình cảm của các thành viên trong làng, cho nên quan hệ với làng xã, thị tứ là một cấu thành (xem sơ đồ hình III.2).
Sự hình thành và phát triển thị tứ trong làng xã phần lớn là do công sức, trí tuệ, nguyện vọng của người dân làng. Vì thế nó phải là hạt nhân của làng xã, có đơn vị hành chính trực thuộc xã tương đương với cụm dân cư làng xóm. Nếu thị tứ có quy mô cả một làng xã thì thị tứ đó mang tên làng xã đó, có quan hệ hành chính là xã – thị tứ trực thuộc huyện.
– Một xã có thể có một hoặc nhiều thị tứ làng xã với chức năng theo tính chất của thị tứ đó nằm trong làng hoặc giữa các làng trong xã.
– Thị tứ dược quản lý và tổ chức theo dường phố, có tên riêng và có số nhà đánh theo quy luật của số nhà các đô thị.
 Cơ cấu chức năng chung của thị tứ làng xã
Nguyên nhân chính xuất hiện thị tứ làng xã là do sự đòi hỏi có một môi truờng làm việc mới, một nhu cầu mới về ở và phục vụ do đời sống ngày càng nâng cao của dân cu sống ngay tại các làng xã trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường.
Điều này đã chứng minh và dẫn luận trong chương II về sự hình thành và phát triển các tụ điểm ở của dân cư phi nông nghiệp trong làng xã vùng đồng bằng Bắc bộ.
Mặt khác, sự ra đời và xuất hiện thị tứ làng xã còn do tác động khách quan của chủ trương chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động trong nông thôn, thông qua việc xây dựng thị trường là các thị tứ làng xã, vừa là nơi sản xuất ra các của cải vật chất, dồng thời cũng là nơi tiêu thụ, điều tiết các hàng hóa từ mọi nơi tới và điều tiết sức lao động ở nông thôn.
Thị tứ làng xã là diêm “tiểu đô thị”, nằm trong làng xã, có cơ sở vật chất và điều kiện thuận lợi, là nơi tập trung nhiều tiến bộ trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học kỹ thuật và cách ở mới trong làng xã nông thôn.
Thị tứ làng xã lấy hạt nhân cơ bản là lĩhùở mang tính đô thị. Nhà ở mà ngoài chức năng ở còn chứa đựng chức năng làm kinh tế gia đình, thông qua việc kinh doanh sản xuất và dịch vụ phi nông nghiệp tại nhà.

– Chức năng â trong thị tứ thể hiện ở các công trình nhà ở kiểu đô thị và nửa đô thị nhử nhà ở dịch vụ, nhà ở sản xuất, nhà ở văn phòng điều hành và các nhà ở kinh tế gia đình khác.
– Chức năng trung tâm kinh tế, thể hiện ở các cơ sở sản xuất và kinh doanh dịch vụ của tập thể, nhà nước và tư nhân kể cả trong không gian nhà ử. Bao gồm tất cả các công trình
như trạm trại, xưởng sản xuất, kho tàng, sân bãi, cửa hàng, ngân hàng, tín dụng, chợ quán v.v… phục vụ cho sản xuất và kinh doanh dịch vụ nhằm phát triển kinh tế.
– Trung tâm thông tin văn hóa giáo dục và khoa học kỹ thuật được thể hiện qua hệ thống các công trình nhà văn hóa, nhà truyền thống, đình, chùa, nhà thờ ; Các công trình giáo dục như nhà trẻ, trường học phổ thông, trường dạy nghề, trường hướng nghiệp ; Các công trình thông tin, xã hội như nhà bưu điện, nhà thông tin, sân vận động thể thao, lễ hội v.v…
– Trung tâm hành chính, tổ chức điều hành thể hiện ở các công trình như nhà làm việc dàn chính Đảng, các đoàn thể, trụ sở đội, hợp tác xã, trụ sở làm việc của xóm, làng, cụm, khu vực v.v…
– Trung tâm nghỉ ngơi, giải trí bao gồm các công trình như sân chơi, vườn hoa cây xanh, hồ nước, các tiểu cảnh hoặc công viên nhỏ V. V…

Toàn bộ những chức năng chính của thị tứ làng xã thể hiện trong các lĩnh vực dịch vụ, nông nghiệp, ngư nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp, du lịch, tín ngưỡng và vận tải v.v… Thông qua các công trình công cộng, nhà sản xuất và nhà ở, được biểu diễn dưới sơ đồ các chức năng chính của thị tứ làng xã với chức năng kết hợp với kinh doanh sản xuất dịch vụ phi nông nghiệp là trọng tâm và là cơ cấu chính của thị tứ làng xã (hình III.4)