Khái quát về xã hội nông thôn

1. Bản chất xã hội nông thôn
     Trong tiến trình phát triển của xã hội, con người đã tạo ra hai vùng cư trú : nông thôn và đô thị. Nông thôn và đô thị luôn kề liền và quan hệ với nhau rất chặt chẽ.
Trong thực tế,ranh giới giữa nông thôn và đô thị không phân biệt một cách rạch ròi. Vùng “mở” giữa hai bên là ven đô. Xã hội càng phát triển, vùng nông thôn càng bị thu hẹp để nhường đất đai cho đô thị mở rộng. Tốc độ bị thu hẹp của vùng nông thôn phụ thuộc
vào tốc độ đô thị hóa.
Ở nước ta tỷ lệ vùng nông thôn chiếm gần 80% diện tích đất đai toàn quốc.
Xã hội nông thôn là sự thống nhất đặc biệt của môi trường nhân tạo với điều kiện địa lý tự nhiên và kiểu tổ chức xã hội phân tán.
Đặc trưng xã hội nông thôn :
Ở nông thôn trình độ phát triển thua kém so với khu vực đô thị, thua kém về phúc lợi, chủng loại ngành nghề, về trình độ trang thiết bị sản xuất do đó năng suất lao động không cao, mức thu nhập và tiêu dùng thấp, dịch vụ xã hội kém.
Nông thôn là một hệ thống xã hội tương đối ổn định, năng lực dư thừa song lại là thị trường khó phát triển. Bởi lẽ người nông dân làm nghề trồng trọt, sản xuất và tiêu dùng có thói quen độc lập theo lối tự cung tự cấp. Tính thuần nhất cao về dân cư, xã hội cũng như nghề nghiệp.
Xã hội nông thôn mặc dù có một số đặc tính khác biệt song nó luôn luôn hợp nhất với đô thị tạo thành một chỉnh thể hệ thống xã hội. Sự gắn kết bền chặt của người dân nông thôn với dòng họ, huyết thống và tính cộng đồng tương trợ xóm làng cao. Bền chặt với nghề nghiệp và với phương tiện sản xuất đất đai, với môi trường nơi chôn rau cắt rốn của mình.
Nông thôn Việt Nam mặc dù quy mô các điểm dân cư không tập trung, có số lượng nhỏ, nhưng mỗi làng xã đều tồn tại nhờ những quy định riêng gọi là lệ làng. Có tính đặc thù về giao tiếp xã hội và lối sống.
Văn hóa nông thôn là vãn hóa làng – hình thức văn hóa dân gian là chủ yếu.
2. Cơ cấu và tổ chức xã hội nông thôn
+ Vùng nông thôn: Là một không gian hay một phần không gian xã hội mà trong đó bao gồm một lượng dân cư nhất định, có kiểu tổ chức hoạt động sản xuất dịch vụ cụ thể, có đặc trưng văn hóa đặc thù, có lối sống mang nét riêng biệt, thuộc về một vùng địa lý nhất định và đối lập với vùng đô thị.
+ Cơ cấu tổ chức căn bản của vùng nông thôn là làng xã – loại hình cộng đồng xã hội phổ biến và tồn tại lâu dài ở nông thôn Việt Nam, nó luôn luôn là một tổ chức cộng đồng tự quản, thay mặt các cá nhân, các gia đình để làm nghĩa vụ với Nhà nước. Làng xã là “tế bào” của xã hội, là một đơn vị tổ chức xã hội của quần cư nông thôn Việt Nam.
Để quản lý dân trong làng xã trước kia có “sổ đinh” (nay là sổ hộ khấu) của làng, ơ làng có sự phân biệt giữa dân gốc của làng và dàn ngụ cư. Dân gốc được ở trong làng còn dân ngụ cư thì chỉ được ở ngoài rìa làng. Dân ngụ cư muốn xin đến ở làng phải có thủ tục gia nhập vào làng. Ngày nay sự phân biệt như vậy không còn nữa, tất cả dân làng đêu bình đẳng dưới sự chỉ đạo trực tiếp của trưởng thôn và các ban ngành thôn, làng xã.
Vê tổ chức kinh tế : Làng truyền thống là một đơn vị tự quản, quản lý và phân cấp công điền, công thổ cho các thành viên, mỗi làng có công quỹ riêng. Những làng có ngành nghề thủ công hay nghề truyền thống được giữ bí mật riêng của mình.
Mỗi làng đều được tổ chức một thị trường mua bán đó là chợ làng. Như vậy làng là một đơn vị có đầy đủ các yếu tố hoàn chỉnh của một cơ cấu xã hội có các hoạt động nông – công – thương nghiệp – dịch vụ.
Vê tổ chức chính trị – xã hội : Thời phong kiến làng có một bộ máy kỳ hào, chức dịch trông coi công việc trong làng, theo những luật lệ riêng. Do tính khép kín của cơ cấu làng nên chức dịch cường hào có thể hình thành một pháp đình riêng để xét xử các vụ việc trong làng theo ý của mình. Ngày nay dưới sự lãnh dạo của Đảng Cộng sản, trực tiếp là UBND xã, mỗi thôn xã cũng có những quy ước riêng về xây dựng làng văn hóa, nhưng những quy ước – “hương ước'” này không trái với pháp luật, đã góp phần động viên dân làng thực hiện nếp sống vãn minh, tiến bộ.
         Ngoài pháp lý Nhà nước và hương ước của làng, làng còn có kiểu tổ chức riêng của mình khác với thành phố đó là những tổ chức “Họ”. Tổ chức “Họ” ràng buộc với nhau không chỉ bằng sợi dây huyết tộc máu mủ mà còn bằng tổ chức nội bộ dòng họ – hương hỏa tư điền, tộc trưởng cha chú. vv… Làng – họ được tổ chức với quy mô vừa phải, các thành viên của họ tộc thường tổ chức tương trợ giúp đỡ nhau khi gặp khó khăn hoạn nạn hay có công to việc lớn trong gia đình, giúp nhau đoàn kết xây dựng xóm làng.
Ngày nay làng xã còn được vận động, điều hành, xây dựng thông qua các tổ chức đoàn thể : nhi đồng, thiếu niên, đoàn thanh niên, phụ nữ, bô lão, cựu chiến binh, hội đồng niên, đồng môn v.v… của làng.
       Về cơ cấu tổ chức làng xã được xem như một “quốc gia thu nhỏ” nó đầy đủ nội dung và hình thức của một xã hội. Làng là đơn vị cơ sở nhỏ nhất, bền lâu nhất, vì vậy việc nghiên cứu các mặt về nông thôn thông qua đối tượng làng là điều cần thiết.