Kiến trúc công trình sản xuất

        Nông thôn nước ta đã trải qua một thời kỳ dài sống tự cung tự cấp. Sản phẩm lao dộng hầu như chỉ phục vụ cho các nhu cầu sinh họat của dân làng, vì thế các công trình sản xuất có quy mô lớn, mang tính chất chung của làng xã có rất ít (trừ hệ thống kênh mương xây dựng từ thời Nguyễn Công Trứ). Cổng trình sản xuất có quy mô nhỏ chú yếu là nằm trong các hộ gia dinh và dược bố trí trong khuôn viên nhà , bao gồm khu vực kho chứa, gia công chế biến lương thực và ươm giữ giống hạt, củ, con, cây trồng, như nhà kho, nhà phụ (nhà ngang) để cối xay thóc, cối giã gạo, giá để củ, để hạt giống, các chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm, các không gian làm nghề phụ khi nông nhàn hoặc các xưởng sản xuất thủ công truyền thống.

       Những không gian sản xuất dược bố trí độc lập hoặc kết hợp trong cùng một không gian chung hoặc bố trí ở hiên nhà (xem hình I-35a, b, c, d, e, f, h).
Từ năm 1954 ruộng đất đã dược chia đều cho người nông dân. Tiếp đó với chủ trương hợp tác hóa, đất đai lại được tập trung vào các hợp tác xã nông nghiệp theo quy mô cộnư done làng xóm. Kiểu sản xuất dơn lẻ,tự cung tự cấp theo lối cũ không còn nữa. Hệ thống các làng xã ở nông thôn (ở miền Bắc) là hệ thống các hợp tác xã nông nghiệp và thủ công none nghiệp. Hệ thống sản xuất dơn lẻ theo hộ được chuyển sang hệ thống sản xuất tập thể hợp tác xã.
Với cách tổ chức sản xuất theo kiểu cộng đồng như vậy, người nông dân sinh sống và làm việc trong một tập thể có “ruộng chung và sức cũng chung”, mọi hoạt động tập thể mang đậm đà tình làng nghĩa xóm. Quan hệ sản xuất ở nông thôn dược tổ chức dưới dạng tập thể hóa. Hầu hết các công việc sản xuất nông nghiệp hay thủ công nghiệp đều do hợp tác xã tổ chức thực hiện.

Kiến trúc công trình sản xuất 1
        Xuất phát từ cách tổ chức sản xuất theo lối tập thể tập trung và phân phối theo kiểu đồng đều chia nhỏ theo hộ, theo khẩu, hệ thống các công trình sản xuất trong các làng xã nông thôn biến đối hẳn. Những không gian nhà xưởng sản xuất, các chuông trại bao năm tồn tại trong khuôn viên nhà ở của các hộ nông dân lúc này không còn hoạt động nữa, nó được biến đổi chức nãng hoặc dỡ bỏ để tập trung vào một khu chung của tập thể hợp tác xã. ơ nông thôn đâu đâu cũng xây dựng nhà kho, sân phơi chung hợp tác xã. Đây là công trình sản xuất tiêu biểu nhất, là hình ảnh tượng trưng cho sự lớn mạnh của hợp tác xã thời bấy giờ, tại đây diễn ra các hoạt động phục vụ sản xuất trong thu hoạch mùa màng như chứa đựng, phơi hong, làm sạch những sản phẩm nông nghiệp trước khi phân phối cho các hộ nông dân, đồng thời chính nơi đây cũng diễn ra các sinh hoạt hội họp bàn bạc, hội thi sản xuất, các hoạt động văn hóa như hội làng, chiếu phim, vãn nghệ v.v… (xem hình I.35h, k, 1, m).
       Có nhiều làng xã không xây dựng được công trình mới dã cải tạo đình làng, biến nó thành nhà kho, lấy sân dinh làm sân phơi của hợp tác xã.
Trong hợp tác xã, chăn nuôi tập trung thành trại, như trại lợn, trại gà, trại trâu bò (nguồn sức kéo), trại cá, trại giống động thực vật khác v.v… Các công trình phục vụ sản xuất cũng tập trung thành trạm, như trạm điện, trạm thủy lợi, hệ thống kênh mương tưới tiêu, trạm bảo vệ dộng thực vật, trạm sửa chữa máy công cụ sản xuất v.v… của hợp tác xã (hình I-35g). Đặc biệt các xưởng sản xuất thủ công nghiệp cũng tập trung vào một khu vực hợp thành khu xưởng chung, các hộ không được tự tiện mở xưởng hay bố trí không gian sản xuất ở nhà (1 úc đó coi sản xuất ở nhà là phi pháp, bị phạt hoặc tịch thu).
       Tất cả các công trình sản xuất trong thời kỳ này đều được bố trí có kế hoạch, quy hoạch theo hệ thống tầng bậc có quy mô từ tổ, dội sản xuất, hợp tác xã nhỏ cấp thấp đến quy mô tiểu vùng, cấp huyện. Điển hình nhiều hợp tác xã phát huy được tính tích cực của mô hình sản xuất này đã đạt nãng suất sản lượng lúa màu rất cao. Cũng chính mô hình sản xuất theo kiểu “hợp tác xã” với tính ưu việt của nó đã dộng viên được sức của, sức người và dã làm đổi mới theo hướng tiến bộ làng quê Việt Nam trong nhiều lĩnh vực, làm tiền đề cho giai đoạn phát triển sau này. Đặc biệt đã góp phần quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước.
         Tiếp đó với chủ trương mở rộng quy mô hợp tác xã nông nghiệp trên toàn xã, hy vọng phái huy tính tập thể và quy mô sán xuất lớn sẽ phát triển hơn, nhưng vì duy ý chí không nắm bắt dược thực trạng “môi trường sản xuất” nông thôn lúc bấy giờ là chưa có đội ngũ đủ trình độ quản lý sản xuất, vai trò dơn vị hộ sản xuất bị coi nhẹ v.v… nên dã không phát huy được sản xuất phát triển, dẫn đến phân giải. Hợp tác xã chỉ còn là hình thức, các công trình sản xuất bị bỏ rơi và xuống cấp trầm trọng, nhiều cơ sở sản xuất bị ngừng trệ hoạt dộng.
        Kiến trúc công trình sản xuất 1

        Nghị quyết 10 của Trung ương đã mở ra cơ chế khoán cho các hộ gia đình nông dân trong việc tự chủ sản xuất, phát huy được đầy đủ vai trò của hộ gia đình trong các hoạt động sản xuất. Hợp tác xã chỉ còn đảm nhiệm những công việc trên tổng thể có quy mô vượt ngoài phạm vi của từng hộ gia đình như công trình thủy lợi, công trình bảo vệ vật nuôi, giống cây trồng v.v… hỗ trợ và điều tiết cho các khâu sản xuất tiêu thụ của từng hộ gia đình. Mặt khác hợp tác xã cũng sẽ điều hòa và định hướng tích tụ ruộng đất cho một sô’ hộ có khả năng canh nông, cải tạo đồng ruộng, mỏ rộng sản xuất, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào nông thôn, thực hiện chủ trương lớn : công nghiệp hóa, đô thị hóa nông thôn v.v… Do vậy ở nông thôn ngoài sự xuất hiện trở lại những không gian sản xuất, những công trình sản xuất truyền thống tại các khuôn viên nhà ở, đã và sẽ hình thành các công trình sản xuất lớn của các hộ có điều kiện chuyên doanh tại các trang trại, các xưởng sản xuất nhiều mặt hàng thủ công truyền thống v.v… Đây sẽ là thị trường sản xuất, thị trường tiêu thụ hình thành trong làng xã.