Kiến trúc nông thôn ở Liên Xô

        Khi cách mạng xã hội chủ nghĩa thành công, các nước xã hội chú nghĩa ra đời, đã đặt ra nhiệm vụ cho mình là xóa bỏ sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn. Trên thực tế các nước anh em đã giải quyết rất thành công nhiệm vụ này. Thực vậy, ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu (cũ) đời sống vật chất, văn hóa ở nông thôn rất cao, không kém cuộc sống thành thị là bao (76). Đây cũng là thực tế chứng tỏ lý luận và thực tiễn trong vấn đề quy hoạch xây dựng nông thôn của các nước này trong giai đoạn đó là thành công cần nghiên cứu, học tập và vận dụng cho phù hợp với điều kiện nông thôn ở Việt Nam. Đó là các lý thuyết về quy hoạch các điểm dân cư nông thôn và các trung tâm nông thôn.
Theo A Condukhôp và A Mikhailốp trong các phần thiết kế và xây dựng điểm dân cư nông thôn (115), trên cơ sở các điều kiện kinh tế văn hóa xã hội và điều kiện tự nhiên của Liên Xô đã đúc kết thành 10 sơ đồ dược giới thiệu ở hình 1.44, trong đó quy mô của mỗi điểm dân cư từ 1.000 người trở lên. Ở mỗi sơ đồ đã quan tâm giải quyết một loạt vấn đề dể điểm dân cư đó tồn tại và phát triển, dó là:
– Quan hệ giữa điểm dân cư với giao thông bên ngoài;
– Quan hệ giữa điểm dân cư với vùng sản xuất;
– Hệ thống giao thông nội bộ của từng điểm dân cư, các công trình hạ tầng kỹ thuật như cấp điện, nước, hơi đốt v.v… ;
– Việc bô’ trí mặt bằng của từng cãn hộ được nghiên cứu hài hòa cho từng vùng địa lý khác nhau, đảm bảo cho mặt bằng điểm dân cư có một sự thống nhất trong toàn bộ quần thể kiến trúc ;
– Vấn dề dặc biệt được quan tâm đó là những công trình văn hóa phục vụ công cộng như sân thể thao, câu lạc bộ, lớp học, trạm xá, khu công viên nghỉ ngơi giải trí với hệ thống cống rãnh đã tạo cho điểm dân cư một môi trường sống trong lành yên tĩnh ;
– Với thiết kế quy hoạch xây dựng một điểm dân cư nông thôn như vậy, đã mang đậm nét của đô thị hóa và giải quyết tương đối thỏa mãn các nhu cầu thường ngày của con người là làm việc, học tập, ãn ở, nghỉ ngơi v.v…

       Qua 10 sơ đồ lý thuyết và thực tế thiết kế quy hoạch điểm dân cư nông thổn của A Condukhốp và A Mikhailốp đã toát lên một nội dung : mỗi điểm dân cư đó (làng) đều có một trung tâm bao gồm các công trình công cộng phục vụ, nhà ở nông thôn chỉ có một dạng nhà ở giống nhau cho mỗi đối tượng nông trang viên
Đến giai đoạn sau này trong công trình nghiên cứu “Quy hoạch và xây dựng kiến trúc nông thôn” G. A Deleur và I. u. Ph. Khôkhôn cũng đã đưa ra sơ đồ tổ chức quy hoạch (116) và bố trí công việc xây dựng cơ bản tại một vùng lãnh thổ cấp huyện (hình 1.45), gồm 21 điểm dân cư nhỏ.
Ở sơ đồ này dưa ra 3 cấp trung tâm :
+ Trung tâm của huyện (tương đương huyện);
+ Trung tâm thị trấn của tiểu vùng ;
+ Trung tâm của làng.
1) Trung tâm của huyện là trung tâm có đơn vị hành chính cho toàn huyện bao gồm các công trình phục vụ cho huyện và phạm vi lân cận thuộc thị trấn huyện như nhà làm việc của Xô viết huyện, các công sở, nhà văn hóa, sân, bãi, trạm trại, các xí nghiệp công nghiệp quốc gia, các xí nghiệp nông trang và nhà ở nông trang (nông trường).
2) Trung tâm thị trấn tiểu vùng (một vùng gồm nhiều làng) cũng bao gồm các cơ quan công sở Xô viết của tiểu vùng, các công trình sinh hoạt, văn hóa, các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh, các xí nghiệp nông trang, các công trình sân kho, trạm trại phục vụ sản xuất, các trụ sở nông trường (nông trang) và nhà ở dân cư trong khu vực phạm vi thị trấn tiểu vùng.
3) Trung tâm của làng cũng bao gồm các trụ sở nông trang, các cơ quan công sơ1 khác (nếu có) trụ sở Xô viết làng, các công trình sinh hoạt, văn hóa, các công trình sân kho. trạm trại, nhà phục vụ sản xuất hoặc có các xí nghiệp nông trang hay các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh và nhà ở của dân cư trong làng.
       Như vậy trong một địa bàn huyện (nông thôn), ở Liên Xô lúc bấy giờ cũng chia làm 3 cấp trung tâm theo quan hệ từ trung tâm huyện qua trung tâm tiểu vùng đến trung tâm làng.
Trung tâm tiểu vùng chính là một trung tâm của làng có quy mô lớn (mức độ thị trấn) làm chức năng chung cho một khu vực, gồm nhiều điểm dân cư, ngoài ra nó vẫn giữ chức năng trung tâm của điểm dân cư đó.
       Theo sơ đồ 21 điểm dàn cư trong huyện của G. A Deleur và I. u. Ph. Khôkhôn đã triển khai quy hoạch chi tiết mặt bằng tổng thể toàn bộ các diếm dân cư. Trong mỗi điểm dân cư, trên cơ sở hiện trạng, quy hoạch lại khu nhà ở, khu sản xuất, khu trung tâm công cộng, khu kho bãi, trạm trại, khu văn hóa thể thao (hình 1.46) một cách hợp lý, giải quyết một loạt các quan hệ giữa khu ở nông trang viên với nơi sản xuất, khu ở với trung tâm sinh hoạt văn hóa công cộng theo kiểu như tổ chức quy họach điểm dân cư đô thị. đặc biệt nhà ở được chia vùng với những lô đất tăng gia nhỏ, mỗi hộ một nhà, nhưng cũng có hai, ba hộ ghép lại trong một nhà. Các nhà ở này đều được xày dựng theo một hệ thống quản lý của Nhà nước, bố trí rất rộng rãi, theo thiết kế chung, nên không gây lộn xộn. Đó cũng là thành công của Liên Xô trong thời kỳ xã hội chủ nghĩa đối với việc áp dụng điều kiện kinh tế kế hoạch hóa tập trung vào xây dựng nông thôn.
       Đối với nước ta trong quá trình chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường, việc xây dựng nông thôn mới cần học tập ở nước bạn những vấn đề : Quy hoạch và xây dựng nông thôn có kế hoạch và quan tâm dến tổ chức mạng lưới trung tâm dịch vụ với nhà ở. Lưu ý nghiên cứu cho phù hợp với bước đi đô thị hóa nông thôn trong điều kiện ở Việt Nam.