Kiến trúc nông thôn ở Trung Quốc

       Để có bài học kinh nghiệm về xây dựng nòng thôn từ Trung Quốc trước hết chúng ta lược qua quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp của nước này.
Trung Quốc là nước đông dân nhất thế giới, từ xưa đến nay vẫn là nước có số hộ gia đình nông dân nhiều nhất. Sau khi thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, tháng 6 năm 1950, chính phủ ban hành luật cải cách ruộng dất. Năm 1952, 300 triệu nông dân nghèo được chia ruộng đất tịch thu từ địa chú. Sau cải cách ruộng đất 110 triệu hộ nông dân được làm chủ ruộng đất, công cụ và sức kéo, đã tham gia vào các tổ đổi công giúp đỡ nhau sản xuất. Đến năm 1953, trên cơ sở nhận thức việc đi lên chủ nghĩa xã hội, không thể để tồn tại nền nông nghiệp tiểu nông, cá thể, phân tán mà phải dưa nông dân đi vào con dường tập thể hóa, Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc đã ra nghị quyết về phát triển hợp tác hóa sản xuất nông nghiệp.
         Thời gian dầu là theo mô hình hợp tác xã bậc thấp, nông dân được phân phối theo lao động và ruộng đất. Nhưng ngay sau đó một hai năm hợp tác xã bậc thấp đã nhanh chóng chuyển lên hợp tác xã bậc cao. Chỉ 3 năm số hợp tác xã bậc cao đã lên tới 98%. Các hộ nông dân đưa hết ruộng đất, súc vật cày kéo và công cụ vào hợp tác xã. Sở hữu về tư liệu sản xuất của các hộ xã viên hợp tác xã bị xóa bỏ. Lao động của các hộ xã viên được phân chia vào các đội sản xuất, làm việc theo cơ chế khoán việc, hưởng theo công điểm. Sản lượng lương thực mấy năm đầu tăng. Nông thôn phát triển kinh tế nhanh. Trong thời kỳ này xuất hiện rất nhiều công trình văn hóa và sản xuất ở nông thôn.
         Từ năm 1958, hợp tác xã cấp cao lại được tổ chức hợp nhất theo mô hình công xã nhân dân. Tất cả việc quản lý hành chính, kinh tế, xã hội, sản xuất, sinh hoạt đều tập thể hóa, nhưng cũng từ đó đến năm 1978, trong thời kỳ đại nhảy vọt và cách mạng văn hóa, sản xuất nông nghiệp của cổng xã nhân dàn sút kém và trì trệ.
Nguyên nhân chủ yếu là những sai lầm về đường lối chính sách quản lý kinh tế nông nghiệp, tách lao động nông dân và hộ nông dân ra khỏi tư liệu sản xuất, hạn chế kinh tế phụ gia đình, hậu quả là sản xuất sút kém, nông dân đói rách. Để đảm bảo cuộc sống, nhiều nơi nông dân vẫn làm kinh tế phụ gia đình và nhận khoán chui. Việc nhận khoán chui đã mở rộng đến cấp tỉnh.
        Đứng trước thực trạng đó ngày 28 tháng 9 năm 1979 Hội nghị Trung ương Đáng Cộng sản Trung Quốc họp chính thức thông qua ” Quyết định một số vấn dề thúc đẩy phát triển nông nghiệp” trong dó nới lỏng việc phát triển kinh tế phụ gia đình và chủ trương khoán, sản xuất đến đội, tổ nhóm sản xuất. Đến tháng 9 năm 1982, Đại hội Đảng cộng sản Trung Quốc lần thứ 12 chính thức công nhận cơ chế khóan hộ trong sản xuất nông nghiệp. Năm 1983 chế độ khoán hộ được phát triển rộng rãi trong cả nước.
Có cơ chế khoán và được giao quyền sử dụng đất láu dài, các hộ nông dân thực sự làm chủ sản xuất, đã huy động hết tiềm năng lao động, đầu tư vốn, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất như giống, phân bón, công cụ máy móc v.v…, dã thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn Trung Quốc phát triển mạnh mẽ.
Tuy vậy qua mấy năm phát triển, cơ chế khoán hộ đến gia đình nông dân Trung Quốc bên cạnh những hiệu quả dạt được, đã bộc lộ những hạn chế không thể đẩy kinh tế nông nghiệp lên cao hơn được, ví dụ : tốc độ chậm lại do việc sở hữu các mảnh ruộng đất manh mún v.v…
        Để khắc phục những hạn chế của kinh tế hộ gia đình, năm 1984 Hội nghị Đảng Cộng sản Trung Quốc đã ra văn kiện số 1 nhằm hoàn thiện chế độ khoán hộ, khuyến khích các hộ nhường quyền sở hữu ruộng đất manh mún, tích tụ và tập trung vào các hộ làm nông nghiệp giỏi, khuyến khích các hộ đi vào sản xuất chuyên doanh, sản xuất nông sản hàng hóa, phát triển công nghiệp dịch vụ ở nông thôn. Đến nay kinh tế nông nghiệp Trung Quốc phát triển rất nhanh, phần nào khẳng định hướng đi đúng trong việc xây dựng và phát triển nông nghiệp nông thôn ở Trung Quốc.
        Như trên đã nêu và nhận xét rằng : Trung Quốc cũng là một nước có điêu kiện chính trị kinh tế và địa lý các vùng nông thôn tương tự ở Việt Nam, như hệ thống làng mạc, mạng lưới dân cư, hệ thống hành chính nông thôn. Trong nhiều năm cùng chịu ảnh hưởng của chế độ kinh tế bao cấp, với phong trào hợp tác xã cấp thấp rồi lên cấp cao và sau nữa là nông trang tập thể.
         Vào những năm cuối của thập kỷ 70, nông thôn Trung Quốc đã chuyển mình theo con đường đổi mới kinh tế nông thôn với chính sách khoán hộ. (Nghị quyết của HNTWDCS. Trung Quốc lần thứ 4 khóa 11 ngày 28-9-1979 và được khẳng định trong Hội nghị ĐCS TQ ĩân thứ 12) (31). Từ đó nông dân Trung Quốc được tự do chủ động phát triển kinh tế theo
điều kiện thuận lợi riêng của mình. Các trang trại, các tụ điểm buôn bán được hình thành. Hàng hóa, nông sản ngày càng phát triển, thu hút nhiều nhà đầu tư vào nông thôn. Nông thôn nhiều nơi, nhiều điểm đã trở thành thị trường sầm uất. Nhiều thị trấn nhỏ đã mọc lên trên các tụ điểm giao lưu kinh tế, tại các đầu mối giao thông, hỗ trợ cho mọi mặt của kinh tế xã hội nông thôn phát triển. Nhiều tỉnh với chính sách tự do phát triển kinh tế nông thôn đã được xem như là các đặc khu. Tỉnh Quảng Đông, Ôn Châu là tiêu biểu – Ớ đây thị trấn là các thị trường mới với các doanh nghiệp mới (Theo : “Mô hình phát triển Ôn Châu và việc hiện đại hóa Trung Quốc” – Alan p. Llịư. tr. 309). Thị trấn nhỏ trong vùng nông thôn phát triển bao bọc xung quanh huyện lỵ của Ôn Châu đã đóng góp đắc lực cho đa nguyên kinh tế và cho sự chuyển biến xã hội trong khu vực.
       Ớ Trung Quốc hướng xây dựng và phát triển dô thị nhỏ (thị trấn nhỏ) mang chức năng thị trường và tại chỗ trong các vùng nông thôn, dược thử nghiệm thành công tại một số tỉnh đã mang lại sự tăng trưởng về kinh tế và xã hội. Đây chính là vấn dề cần nghiên cứu học tập và vận dụng trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam.