Làng bản của một số dân tộc ở Việt Nam

      Gần 60 dân tộc anh em sinh sống và phát triển trên dải đất Việt Nam, mỗi dân tộc đều có những phong tục tập quán riêng, đặc biệt mỗi dân tộc dều có “lệ làng” riêng. Vì vậy ngay trong cách xây dựng làng bản của mình, mỗi dân tộc đều có những nét riêng biệt. Trong công trình nghiên cứu “Nhà của các dân tộc ở trung du Bắc bộ Việt Nam (95).
Nguyễn Khắc Tụng đã tổng kết tương đối đầy đủ những nét giống nhau và khác nhau của mỗi dân tộc trong việc xây dựng nhà ở và cả trong cách xây dựng làng bản của mình:
Đối với một số đồng bào ở vùng núi phía Bắc như Tày, Nùng, Thái, Dao, v.v…, trình độ dân trí của họ cao hơn hẳn so với đồng bào Tây Nguyên. Điều đó cũng thể hiện rõ trong lĩnh vực xây dựng nhà cửa và làng bản. Làng bản của họ hầu hết bố trí trên gò đồi thấp hay trên triền suối gần ngay khu canh tác. Hệ thống giao thông được tổ chức theo dạng xương cá ở một vài bản người Tày, những nơi đất bằng phẳng thì bố trí giao thông theo kiểu bàn cờ.
         Mật độ nhà ở thường bố trí thưa, mỗi hộ đều có vườn rau hoặc vườn cây ăn trái riêng, có gia đình còn có ao cá. Phương thức canh tác của một số dân tộc như Sán Dìu, Tày, Nùng có tiến bộ, nhìn vào bản làng của họ có tính chất ổn định lâu dài như người Kinh. Hệ thống trường học, bệnh xá và các công trình công cộng thường được bố trí tại trung tâm xã.

       Ngoài ra còn có những không gian sân bãi trung tâm phục vụ cho lễ hội (hình I.12a, b, c, d).
Đối với đồng bào ở Tây Nguyên việc xây dựng buôn làng cũng theo truyền thống của mỗi dân tộc, cái chung nhất của họ là mật độ nhà ở trong buôn làng dày đặc, gần nhau, không bố trí vườn rau, vườn cây ăn trái trong buôn làng, buôn làng trơ trọi ít bóng cây xanh và hầu hết bố trí cách xa đường giao thông chính, xa các điểm dân cư đô thị, bên triền núi, gần nguồn nước. Cách tổ chức xây dựng trong buôn làng thì mỗi dân tộc lại có những nét đặc trưng riêng.
      Dân tộc Ê- đê, truyền thống của họ là cả buôn làng ở trọn trong một ngôi nhà dài gồm 1 dòng họ, mỗi căn hộ được bố trí ngăn cách với các gia đình khác bằng những vách ngăn, vì vậy buôn làng đơn điệu, hệ thống giao thông đơn giản, khu vui chơi giải trí tổ chức lễ hội là một khoảng đất trống gần nhà mồ.
Đối với dân tộc Gia-Rai thì buôn làng bao giờ cũng được bố trí trên khu vực đất bằng phẳng, hệ thống giao thông trong làng bố trí rộng rãi theo dạng ô bàn cờ, xung quanh làng có hệ thống hàng rào bao bọc, các căn hộ được xây dựng thẳng hàng theo các trục giao thông trong buôn. Nhà thờ chung của buôn làng có quy mô nhỏ; Công trình văn hóa truyền thống của người Gia-Rai là nhà mồ cạnh đấy là không gian trống, phẳng để dân làng tổ chức hội họp, lễ hội (hình 1.13).
            Dân tộc Banar và Xê-đăng có buôn làng được xây dựng ở vùng sâu hơn dân tộc Gia- Rai. Họ tổ chức giao thông theo dạng mạng nhện. Công trình vãn hóa của hai dân tộc này là nhà Rông, các nhà ở mỗi hộ thường bố trí cửa chính quay hướng về nhà Rông.
Nhìn chung mỗi dân tộc, mỗi vùng đều tổ chức làng buôn có những nét khác nhau, phù hợp với điều kiện và phong tục tập quán của mỗi vùng mỗi dân tộc. Cách tổ chức làng buôn của các dân tộc trên đất Việt đều có đặc điểm chung đó là : Ở mỗi đơn vị làng buôn đều tổ chức một trung tâm công cộng phục vụ cho sinh hoạt vui chơi lễ hội, hội họp và tín ngưỡng.

Làng bản của một số dân tộc ở Việt Nam 1Làng bản của một số dân tộc ở Việt Nam 1