Làng – kiểu tổ chức điểm dân cư truyền thống p2

        làng được bao bọc xung quanh bởi lũy tre, các hướng chính đều có cổng làng: cổng Nam, Cổng Bắc, cổng Đông, cổng Tây, để liên hệ với các làng khác trong khu vực và ra cánh đồng mà làng canh tác (thể hiện qua sơ đồ hình 1.2 và hình 1.3).

Làng - kiểu tổ chức điểm dân cư truyền thống p2 1
Trong công trình nghiên cứu về làng Việt Nam truyền thống, Toan Ánh đã nhận xét: “Đi sâu vào trong những làng quê ắt phải nhận thấy những ngôi đình làng, ngôi chùa làng, bãi tha ma ở cuối hoặc đầu làng, cầu quán bên đường làng để khách bộ hành vào nghỉ châncũng như thợ làm đồng buổi trưa vào nghỉ mát, một vài ngôi miếu trong làng đêu hao hao giống nhau, nếu có khác chỉ là điêu dị biệt rất nhỏ. Tới làng này, người ta có cảm tưởng như đã đi qua một lần nào, nếu người ta đã có dịp đi thãm những làng khác vùng quê. Nhũng làng ở trung châu (đồng bằng) hầu như cũng làm theo một kiểu mẫu, xếp theo một bức họa đồ.” (2).
Thực tế, nếu phân tích cơ cấu quy hoạch, sơ đồ kiến trúc làng truyền thống (hình 1.3) ta nhận thấy làng là một cơ cấu dân cư tương đối hoàn chỉnh bao gồm các công trình công cộng, dịch vụ cần thiết đảm bảo những yêu cầu tối thiểu về các mặt ăn ở lao động sản xuất và nghỉ ngơi giải trí.
Mối quan hệ giữa các làng với nhau, giữa làng với nơi sản xuất thông qua hệ thống giao thông đường làng và đường liên xã, ranh giới phạm vi dàn cư làng bằng lũy tre. (Hình 1.2,1.3 và hình 1.4).

Làng - kiểu tổ chức điểm dân cư truyền thống p2 1
           Trung tâm làng xưa bao gồm: Các công trình vãn hóa và tín ngưỡng như: Đình chùa, miếu mạo, trường học… Các công trình phục vụ như: Chợ, quán ; các công trình sinh hoạt, nghỉ ngơi, tạo nên môi trường cảnh quan thẩm mỹ chung như ao làng, giếng làng, cây đa làng (hình 1.3 và hình 1.5. a, b, c, d).
Nhà ở trong làng phổ biến nằm trong khuôn viên. Quanh nhà là vườn cây, ao cá, nhà nọ tiếp nối nhà kia qua hàng rào cây hoặc ước lệ theo ranh giới vườn và lối đi.

        Làng Việt Nam giống nhau trên những nét đại cương, theo nhận định và phân tích chứng tỏ: Trải qua bao nhiêu thế kỷ làng luôn luôn tồn tại và là mô hình kiến trúc điểm dân cư phổ biến ở nông thôn Việt Nam (hình 1.2).
Thật vậy khi nghiên cứu về hiện trạng mạng lưới điểm dân cư Việt Nam, đặc biệt là dân cư đồng bằng sông Hồng, những di tích từ thời Nguyễn Công Trứ trong quá trình vận động nhân dân quai đê lấn biển tạo nên hai huyện Tiền Hải (Thái Bình) và Kim Sơn (Ninh Bình) mô hình các điểm dân cư được xây dựng bám dọc theo các trục giao thông lớn (dồng bằng Bắc bộ) và dọc theo kênh rạch (đồng bằng Nam bộ) mặc dù dân cư còn xây dựng manh mún, tản mạn, song đã trở thành một nguyên lý chung trong quá trình xây dựng và phát triển hệ thống điểm dân cư Việt Nam (hình 1.6).
          Đây là nguyên lý đầu tiên về quy hoạch điểm dân cư ở Việt Nam truyền thống. Mãi đến giai đoạn sau này các nhà nghiên cứu quy hoạch đã căn cứ vào nguyên lý truyền thống để đúc kết đi đến một mô hình tổng quát cho việc quy hoạch dân cư nông thôn: Mô hình tuyến điểm mà mô hình phát sinh của nó là mô hình chuỗi điểm và mô hình lưới điểm (73) (xem hình 1.7,1.8).

Làng - kiểu tổ chức điểm dân cư truyền thống p2 1

Làng - kiểu tổ chức điểm dân cư truyền thống p2 1

Làng - kiểu tổ chức điểm dân cư truyền thống p2 1