Một số đồ án thực tiễn quy hoạch dân cư nông thôn ở nước ta p2

      – Đồ án dược thiết kế và thực hiện trong một giai đoạn tưởng rằng đã có đủ mọi diều kiện để tổ chức và sản xuất lớn ở nông thôn như cơ giới hóa, điện khí hóa, tất cả là công hữu hóa vv… không đề ra được những bước đi thích hợp cho từng giai đoạn. Từ đó dẫn đến việc chỉ đạo theo kiểu mạnh đâu làm đấy, công việc tiến hành đều dở dang và manh mún, gây lãng phí kinh phí đầu tư, xáo trộn công việc làm ăn, sản xuất và sinh hoạt của nông dân. Sau khi có cơ chế khoán 10, vai trò hợp tác xã kiểu cũ bị mờ nhạt, các trung tâm tiểu vùng, các trung tâm của hợp tác xã cũng bị phá vỡ chuyển sang mục đích mới.
+ Quy hoạch sản xuất và xây dựng huyện Quỳnh Lưu – Nghệ An (1977) (112)
Đặc điểm:
Huyện Quỳnh Lưu thuộc tỉnh Nghệ An là một vùng bán sơn địa, có 34 km bờ biển. Dân số toàn huyện tính đến 5/4/1977 có 197.726 người, riêng lao dộng nông nghiệp 131.235 người chiếm 66, 3%. Trong đó có tỷ lệ lao động các lĩnh vực : lâm nghiệp 1,3%, ngư nghiệp 18,7%, làm mướn 9,3%, thủ công nghiệp 7%. Toàn huyện có 39 xã và 55 hợp tác xã nông nghiệp với 33. 700 hộ. Trên địa bàn có 360 điểm dân cư, quy mô điểm dân cư trung bình là 200 hộ, nhỏ nhất là 10-15 hộ. Điểm dân cư lớn nhất khoảng 350 đến 400 hộ.
Nội dung quy hoạch huyện:
Toàn huyện chia ra một thị trấn và 7 tiểu vùng sản xuất hay gọi là thị trấn tiểu vùng – cụm kinh tế xã hội. Trong mỗi trung tâm tiểu vùng là các cơ sở trạm trại kho tàng, một số xí nghiệp sản xuất và dự kiến 7 tiểu vùng này sẽ tiến tới 7 xí nghiệp lớn trong huyện đặc trưng cho tiểu vùng chuyên canh, thâm canh trong huyện
Theo đồ án mạng lưới điểm dân cư được bố trì theo nguyên tắc:
– Toàn bộ 360 điểm dân cư sẽ được bố trí gọn lại còn 54 điểm có quy mô từ 1.000 đến
4. 000 người. Chủ yếu là mỗi điểm phải đạt từ 3500 dến 5000 người, đối với điểm dân cư chưa đạt quy mô 3000 người thì bố trí theo cụm, cứ từ 2 dến 3 điểm dân cư, đủ số dân để xây dựng một trung tâm có các cồng trình văn hóa phục vụ công cộng như: Nhà trẻ, cửa hàng, trường học, thư viện, nhà vãn hóa, mẫu giáo nhằm phục vụ tốt đời sống nhân dân.
Nhận xét:
Qua thực tế thực hiện đồ án quy hoạch cho thấy Quỳnh Lưu làm chưa được bao nhiêu, vì khi triển khai thực hiện cuộc di dân, ít được sự đồng tình ủng hộ của nòng dán trong huyện. Công việc chỉ thực hiện được ở một số điểm dân cư rải rác, manh mún mà người dân thấy cần thiết phải di chuyển.
– Thực tế huyện Quỳnh Lưu là một huyện phong phú về nghề nghiệp (nông, lâm, ngư nghiệp), sự hình thành mỗi điểm dân cư có một quá trình lịch sử. Mỗi điểm dân cư có một nghề chính, ngoài ra còn có những nghề phụ lâu dời, có đặc tính riêng, trong một thời gian ngán không thể thay đổi và thực hiện theo đồ án này được.
– Đồ án không phân ra từng giai đoạn thực hiện, dự kiến ban đầu quá lớn, khi thực hiện phát sinh những khó khăn, nhưng các cấp chính quyền không điều chỉnh ngay để từna bước thực hiện mà bỏ dở giữa chừng.
+ Quy hoạch huyện Cai Lậy tỉnh Tiền Giang (năm 1977)
Đặc điểm:
Cai Lậy là một trong 5 huyện của tỉnh Tiền Giang, nằm trong trọng điểm trồng lúa của đồng bằng Sông Cửu Long. Huyện Cai Lậy có diện tích đất tự nhiên là: 51.273 ha. Dàn số toàn huyện: 215.207 người, gồm 36.440 hộ được phân bố thành 179 ấp trên khắp dịa bàn huyện với mật độ 397 người/km2.
Đây là một huyện đặc trưng của nông thôn miền Nam sau ngày giải phóng: Nền kinh tế chủ yếu là cá thể, dân lao đông gồm nhiều ngành nghề. Nông, ngư nghiệp, nghề tiểu thủ công nghiệp phát triển phone phú và đa dạng. Cơ sở vật chất phục vụ cho nông nghiệp tương đối lớn và thuộc sở hữu tư nhân. Dân cư sống tản mạn, hậu quả do chiến tranh để lại, nhà ở và các công trình kiến trúc trong ấp rất tạm bợ. Tuy vậy huyện có nét truyền thống lâu dời của vùng đồng bằng miên Nam là dân cư cư trú thành từng ấp hai bên kênh rạch và đường giao thông.
Phương án tổ chức dân cư và sản xuất:
Mặc dù miền Nam mới được giải phong trong một thời gian ngán, nhưng do trào lưu hợp tác hóa nông nghiệp đang phổ biến, nên Cai Lậy là một trong những huyện được đưa ra mô hình rìên sản xuất đại công nghiệp tiến tới cơ giới hóa, thúy lợi hóa v.v… Tất cả mọi tư liệu sản xuất của nông dân đều cône hữu hóa. Đồ án nêu ra những nguyên tắc:
– Di chuyển những trại ấp nhỏ lẻ tẻ trên đồng ruộng, tiếp theo di chuyển những điểm dân cư khác, với quy mô lớn để tập trung thành những làng lớn theo quy hoạch, xác định điểm dân cư có quy mô lớn để xây dựng thành trung tâm theo tiểu vùng.
– Sắp xếp lại việc ãn ở các điểm dân cư bám hai bên kênh rạch và đường giao thông để phù hợp với tập quán lâu đời của nhân dân. Tận dụng đất liền điểm dân cư cũ, hạn chế dùng dất canh tác xây dựng điểm dân cư mới, xây dựng các công trình phục vụ công cộng thích hợp với bán kính phục vụ và sản xuất theo mô hình chung.
Nhận xét:
Nhìn chung trong quy hoạch mạng lưới dân cư đã nêu ra dược những nét chung nhất mang tính chất nguyên tắc tương đối phù hợp với đặc trưng nền sản xuất hiện đại trong vùng. Song trong đồ án quy hoạch chưa đi vào chi tiết, vì thế quá trình thực hiện đã lúng túng và ít có hiệu qủa. Việc tổ chức lên sản xuất lớn trong hoàn cảnh thực tế ở vùng chưa phù hợp, nên mang lại hậu quả kinh tế không phát triển, dảo lộn dột ngột cuộc sống của người nông dân. Khi có chế độ khoán 10, phương án hoàn toàn bị từ bỏ.
+ Quy hoạch xã Định Công,huyện Yên Định – Thanh Hóa (1977)
Đặc điểm:
Xa – Hợp tác xã Định Công do 8 hợp tác xã nhập lại, có diện tích tự nhiên là 407 ha, gồm có 4 thôn với dân số 3.720 người (năm 1977).
Phương án:
Đã đề cập đến nhiều lĩnh vực, trong đó vấn đề mở mang, cải tạo hệ thống giao thông, hệ thống thủy lợi, cải tạo cánh đồng, xây dựng các trạm, trại, kho tàng, các cơ sở phục vụ sản xuất, đề xuất phương án xây dựng các công trình phục vụ công cộng trọng điểm dân cư xã, trên cơ sở đề ra phương án tổ chức lại hệ thống dân cư trong địa bàn và vùng lân cận (xem hình 1.17,1.18)
Theo đồ án quy hoạch, đã dồn các điểm dân cư bám dọc theo các trục đường, bên dòng sông Mã, nhỏ, manh mún tập trung lại thành hai cụm lớn, trong đó có cụm dưa toàn bộ dân đi lên phía đồi để sinh sống.
Thực tế:
Việc di dân theo quy hoạch được tiến hành bằng sức ép, trong khi một số điểm dân cư tuy nhỏ bé bên đường, bên sông đã hợp lý lại di chuyển đi, mà không tính đến sự phát triển tương lai dân cư sẽ phủ đầy và nối liền nhau thành điểm dân cư lớn. Việc di chuyển là không cần thiết. Vì thế đã nảy sinh nhiều mâu thuẫn.
Nhận xét:
Việc nghiên cứu quy hoạch thiếu đồng bộ, chỉ nhìn trong phạm vi của xã mà không kết hợp với việc phát triển của những xã lân cận và sự phát triển chung của toàn huyện, vì thế chính xã Định Thành bên cạnh đã là tác nhân làm phá vỡ ý đồ quy hoạch xã Định Công.

Một số đồ án thực tiễn quy hoạch dân cư nông thôn ở nước ta p2 1

Một số đồ án thực tiễn quy hoạch dân cư nông thôn ở nước ta p2 1