Nghề truyền thống trong cơ chế thị trường p1

      Trong lịch sử Việt Nam, các làng nghề ra đời rất sớm. Do nhu cầu của sản xuất nông nghiệp đòi hỏi phải có các công cụ canh tác theo trình độ phát triển tương ứng. Đó là những cái liềm, cái cày, bừa, cái cuốc, cối xay và các vật dụng tiêu dùng, sử dụng cho sản xuất khác được ra đời và bắt đầu ngay trong nhà, các hộ nông dân bằng cách tranh thủ thời gian nhàn rỗi đã sản xuất phục vụ cho công việc canh tác nông nghiệp. Sau này do nhu cầu ngày càng phát triển, mặt khác do quá trình phân công hóa, tập trung hóa nên các hoạt động thủ công này được tập trung vào một số làng có điêu kiện.
        Một đặc điểm cơ bản ở nông thôn Việt Nam nói chung là vùng đất chật người đông, lại do thời tiết khắc nghiệt nên nguồn lợi do canh tác nông nghiệp mang lại quá nghèo nàn và ít ỏi, nó chỉ đảm bảo cuộc sống tối thiểu, tự cung, tự cấp cho dân làng. Theo điều tra nghiên cứu của Đỗ Long và Trân Hiệp (57) thì nếu các làng, ngoài nghề nông mà không làm thêm các nghề thủ công hoặc buôn bán thì đều nghèo khó. Mặt khác việc trồng lúa nước cho phép người nông dân có nhiều thời gian rảnh. Nếu chỉ tập trung vào trông lúa thì hai vụ chỉ sử dụng thời gian tổng cộng khoảng 125 ngày/năm là đủ (theo kết quả điều tra hộ nông dân ỏ Hà Tây, Bác Ninh – Bác Giang và Nam Định, Hà Nam).
       Chính vì vậy thời gian còn lại họ có thể làm thêm một số nghề phi nông nghiệp khác. Trước hết là vật dụng trong nhà, sau đó sản phẩm biến thành hàng hóa, bán lấy tiền mua sắm những đồ dùng thiết yếu trong cuộc sống, v.v… mà bản thân họ không làm ra được. Tình hình lúc đầu chỉ khép kín trong hộ gia đình, sau đó mở rộng ra họ hàng, phường hội, rồi khắp làng, khắp nơi trong khu vực. “Theo kết quả điều tra của p. Guru đã có thời kỳ ở vùng đồng bằng Sông Hồng lên đến 800 nghề thủ công khác nhau” (57), trong đó có những nghề đạt tới trình độ công nghệ với kỹ thuật tinh vi phức tạp và sự phân công khá cao. Biểu hiện là sự ra đời của làng nghê mà hầu hết mọi người trong làng đều lấy nghề đó làm nguồn sống chủ yếu.
         Thí dụ như nghề gốm Thổ Hà (Bắc Ninh), Bát Tràng (Gia Lâm – Hà Nội) là hai làng thuần nhất, ít làm ruộng. Còn các làng khác như Hương Canh ở Vĩnh Phúc, Kẻ Giám ở Hải Dương, Dũng Đông ở Hải Phòng và Làng Mẹo ở Thái Bình có nghề dệt khăn v.v… vẫn có bộ phận làm nông nghiệp.
“Nói chung ở nông thôn, nơi nào, làng nào dù ít hay nhiều đều có bộ phận làm nghề thủ công. Có những nơi phát triển rất mạnh với mật độ phân bố đều khắp, đó là huyện Thanh Oai (Hà Tây), gần 1/3 (29%) dân số làm nghề thủ công” (57). Nghề nghiệp thì rất đa dạng gần 60 nghề khác nhau như nghề làm nón, xe chỉ, dệt thảm, đan lát, v.v… nghề nào cũng phát triển.
        Mặc dù làng nông nghiệp có nghề thủ công ảnh hưởng đến cơ cấu lao động và cư cấu sản xuất, tiêu thụ trong làng, nhưng các làng nghề vẫn bị ràng buộc bởi các đặc điểm của giai cấp tiểu nông, một trở ngại khó đưa sản xuất lên thành công trường thủ cổng lớn được. Cho nên chức năng sản xuất nông nghiệp và sản xuất thủ công nghiệp chỉ đan xen với nhau trong hệ thống cơ cấu không gian kiến trúc nhà ở làng xã mà chưa bật rõ chức năng chuyên của nghê. Còn tại các làng nghề thuần thủ công nghiệp thì đặc điểm chức năng hoạt động nghề nghiệp ảnh hưởng sâu đến cấu trúc của làng xã và nhà ở một cách rõ ràng hơn.
Thí dụ như nghề làm nón, đan lát mây tre, làm lược, làm lưới bát cá, v.v… thường người ta chỉ làm tranh thủ vào giờ rảnh, những ngày, tháng khi không bận công việc ruộng đồng. Nơi làm việc ở ngay trong không gian hè, hiên, không gian ăn uống trong nhà bếp hoặc giữa nhà chính hay ngoài sân trong khi chưa dùng vào công việc thu hoạch mùa màng. Đó là những không gian đa năng truyền thống.
        Một số nghề, một số làng nghề thuần thủ công nghiệp như làng gốm ở Bát Tràng với không gian để làm nghề lại có đặc thù riêng, như nơi làm đất, tạo hình, nơi để phơi và lò nung vôi, nghề dệt vải phải có không gian đặt máy dệt, nối xe sợi, nhuộm, hấp, v.v… Hoặc nghề rèn cũng vậy, lại có không gian riêng cho đặt bệ lò, đe, v.v… Tất cả chức năng khác biệt dẫn đến không gian kiến trúc cho mỗi loại nghề trong làng xã nói chung, trong khu nhà ở của mỗi hộ nói riêng cũng có đặc điểm riêng phù hợp với yêu cầu sử dụng của nó, đồng thời làm mất dần cách ở truyền thống nông thôn chuyển dần sang cách ở mới mang tính chất đô thị.