Nghề truyền thống trong cơ chế thị trường p2

       Từ lâu nghề truyền thống đã có một vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển làng, xã. Ngày nay trong bối cảnh hệ thống kinh tế nông thôn chuyển từ kinh tế hợp tác xã mang tính tập thể sang kinh tế hộ gia đình nhiều thành phần có sự điều tiết quản lý của HTX. Cộng đồng các hộ gia đình nông dân được tự chủ trong sản xuất và kinh doanh, với điều kiện đó nghề phụ truyền thống được trỗi dậy và phát huy rất nhanh. Cùng với nghề nông,các ngành nghề khác cũng phát triển dần dến cộng dồng các gia dinh nông dân bị phân hóa thành các nhóm có trình độ và khả năng phát triển khác nhau, trước hết là khả năng tham gia vào các lao động phổ biến trong làng xã. Với khả năng tính toán làm ăn kết hợp với khả năng lao động, nghề nghiệp và vốn đầu tư, mỗi hộ gia đình tùy theo năng lực của mình đã thích nghi với đặc tính sản xuất dã phân hóa thành các nhóm hộ: Thuần nông và phi thuần nông (Xem sơ đồ hình II.3).
– Nhóm hộ thuần nông – chủ yếu sản xuất trên ruộng khoán, có thể kết hợp chân nuôi và làm vườn quy mô nhỏ (chiếm 9% – số liệu 1990).
– Nhóm hộ phi thuần nông: Ngoài làm ruộng ra còn có khả năng đầu tư phát triển làm các nghề phi nông nghiệp, buôn bán. Nhóm này hiên nay chiếm trên 90% hộ gia đình trong làng xã. Đây là nhóm hộ gia đình cơ bản nhất đang phân hóa nghề nghiệp, là yếu tố vi mô tác động lên sự chuyển đổi kinh tế hàng hóa nhiều thành phần để đối phó với tình trạng mất cân đối giữa đất đai lao động và việc làm ở nông thôn
Trước hết, lao động trong các hộ gia đình nông dân được định hướng sử dụng theo hai hướng:
         Hướng thứ nhất, phát triển các khả năng sản xuất thuần nông trên cơ sở ruộng khoán và VAC. Nhưng trong điều kiện hiện nay còn có khó khăn. Để tăng cường sử dụng lao động nông nghiệp thì phải mở rộng diện tích canh tác hoặc phải phát triển thâm canh. Việc mở rộng diện tích đối với đồng bằng Bắc bộ khó có thể đặt ra vì có nguy cơ thu hẹp. Còn thâm canh, tăng vụ theo kiểu khuyến nông thì cần phải giải quyết hàng loạt khó khăn v’ê vốn, phương tiện khoa học và giới hạn thời gian của mùa vụ. Nhưng cũng chỉ tập trung một số nhân lực.
          Như vậy chỉ còn hướng thứ hai là chuyển lao động thừa vào các hoạt động phi nông nghiệp tại chỗ hoặc đi ra các đô thị thông qua con đường đa dạng hóa hoạt động lao động (đa dạng hóa ngành nghề) ở mỗi gia đình, mỗi làng xã. Đây là quá trình phân hóa nghề nghiệp ở nông thôn phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội. Khả năng điều chỉnh lao động nghề nghiệp còn phụ thuộc lớn vào truyền thống năng lực nghề của địa phương và gia đình, khả nãng tiếp thu và phát triển nghề mới, điều kiện thị trường vầ giao lưu xã hội, v.v… Do đó muốn tạo điều kiện phát triển trước tiên phải tổ chức xây dựng cơ sở vật chất cho nó, tạo một môi trường phù hợp, theo hướng chuyển đổi và xây dựng một bộ phận làng xã nông thôn thành hạt nhân có chức năng phi nông nghiệp, phục vụ cho đối tượng có nghề nghiệp mới, tạo ra một cách ở mới thích ứng trong điều kiện làm việc mới. Đó là các quần cư ở và nơi làm việc không thuần nông ở nông thôn.
         Đối tượng cư dân đặc biệt có vai trò quan trọng trong sự phát triển nghề nghiệp cũng như việc phát triển kinh tế xã hội của làng xã đó là cán bộ công nhân viên, bộ đội hưu trí và nghỉ mất sức cùng với đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, giáo viên trong mỗi hộ gia đình ở tại làng xã. Họ là những người có trình độ nhận thức xã hội cũng như nghề nghiệp nên ảnh hưởng của đối tượng này rất lớn trong công việc truyền nghề, công tác quản lý kinh doanh và tổ chức sản xuất. Qua điều tra một số làng xã ở Hà Tây, Bắc Ninh, Hà Nam, Nam Định thấy rằng 99% hộ gia đình có hạt nhân trên, kinh tế đều phát triển và 70% cán bộ lãnh đạo chính ở làng xã là bộ đội và cán bộ công nhân viên vê làng. Bản thân họ được đào tạo và sống một thời ở môi trường có tiến bộ nên được tiếp thu văn minh khoa học, kỹ thuật và cách sống ở nơi đô thị. Khi trở về làng quê họ mang theo và ảnh hưởng đến các thành viên bên cạnh. Đây cũng là nhân tố thuận lợi cho công tác xây dựng và phát triển nông thôn