Quan điểm lý luận trong quá trình phát triển phần 2

         Tuy không giải quyết triệt để các nội dung thích ứng với yêu cầu của người dân nông thôn, những mẫu nhà xây dựng do nhà nước đầu tư xây dựng cho nông dân ở của Viện thiết kế quy hoạch và xây dựng nông thôn – Bộ Xầy dựng cũng đã đánh dấu một giai đoạn mà các nhà chuyên môn đã quan tâm đến kiến trúc nhà ở nông thôn bằng nguồn đầu tư của nhà nước. Việc cải tạo và xây dựng thực nghiệm nhà ở theo lô đất đã phần nào đưa văn minh ăn ở vào nông thôn cho người dân, đồng thời khảng định vai trò của chuyên môn kiến trúc xây dựng trong việc tổ chức xây dựng nông thôn mới.
       Vào những năm cuối của thập kỷ 70, hưởng ứng nghị quyết IV và sau này là nghị quyết V của Ban chấp hành Trung ương Đảng, cùng với việc quy hoạch đồng bộ xây dựng địa bàn cấp huyện theo các lĩnh vực khác nhau như bố trí lại sản xuất, xây dựng công trình hạ tầng, các công trình phục vụ công cộng. Nhà ở cũng được nghiên cứu theo hướng “Cải tạo lại mạng lưới dân cư trên địa bàn huyện… tổ chức đời sống ở nông thôn” (76).
Công việc nghiên cứu về nhà ở lúc này chia làm hai loại: nhà tại các huyện lỵ và nhà ở các vùng hợp tác xã nông thôn.
– Nhà ở các huyện lỵ, thị trấn đưa ra một số mẫu “thiết kế giống các thành phố” (76).
– Nhà ở tại các làng xã nông thôn hợp tác xã thì chỉ chú trọng đến nhà ở nông thôn đơn thuần nông nghiệp. Các chức năng kinh doanh sản xuất trong nhà ở không được đề cập như một nhiệm vụ, vì thế các mẫu nhà đưa ra ứng dụng ít phát huy được hiệu quả, nhất là nhà ở tại các trung tâm tiểu vùng, trung tâm làng xã.
        Tuy vậy, với phong trào rầm rộ hướng về địa bàn cấp huyện, nhiều địa phương, nhiều cơ quan, viện, bộ, trường đã đưa ra được nhiều mẫu nhà ở cho các vùng khác nhau. Vê cơ bản vẫn chỉ có hai loại nhà chính: Mẫu nhà ở nông thôn thuần nông và mẫu nhà ở thị trấn kiểu thành phố (hình. I.36a, b). Mẫu nhà ở đã đi sâu vào các khía cạnh địa hình, khí hậu như: Nhà ở cho vùng ẩm thấp, nhà ở nông thôn vùng ngoại ô của KTS Đặng Tố Tuấn: Với khía cạnh xã hội học kiến trúc theo “không gian cho ba thế hệ ở” (64). Bằng phép biến đổi không gian linh hoạt, phù hợp với yêu cầu xê dịch của nhiều loại hộ ở (hình 1.37).
Sự nghiên cứu có tính chất độc đáo và chắt lọc nhất đó là “Cuộc thi quốc tế về Kiến trúc nông thôn”, có rất nhiều đề tài nghiên cứu về chủ đề này đã chứa đựng một giá trị nghệ thuật, khoa học về kiến trúc cao.
      Có 37 đề tài về nhà ở nông thôn cho nhiều vùng khác nhau”… có loại dành cho các vùng châu thổ sông Hồng, sông Cửu Long…, có loại cho vùng ven biển, vùng ngoại ô thành phố lớn có đề tài chuyên về cải tạo thôn xóm cũ hoặc chuyên về quy hoạch chãn nuôi, trồng trọt hoặc chuyên về kỹ thuật xây dựng truyền thống với nhân lực và vật liệu tại chỗ kết hợp với kỹ thuật mới, vật liệu mới” (84). Như các đề tài:
– Làng nổi Đồng Tháp Mười của Bùi Quang Ngân, Đặng Bá Câu và Nguyễn Ngọc Bình.
– Nhà ở một đơn vị cân bằng sinh thái của Nguyễn Luận và Trần Quang Trung.
– Nhà ở vùng đất bồi ngập mặn Cà Mau của Nguyễn Văn Tất (hình 1.38 ) (68).

– Nhà ờ nông thôn vùng cói Thái Bình của nhóm Trần Trọng Chi.
– Nhà ở vùng ngập lụt Quế Võ – Hà Bắc của nhóm Chu Tuyết Mai và Dương Ngọc Bích.
– Thiết kế nhà ở cho gia đình nuôi tôm vùng cao nguyên Làm Đồng của Nguyễn Văn Đánh.
– Cải tạo nhà ở dân tộc Thái của Nguyễn Thị Hoàng Liên.
– Quy hoạch cải tạo và xây dựng một nhóm nhà ở nông thôn huyện Đông Hưng – Thái Bình của Đặng Thái Hoàng.
– TỔ chức quy hoạch và cải tạo nhà ở cho một hợp tác xã miền Trung du Bắc bộ của Huỳnh Thanh Xuân.
– Nhà ở nông thôn vùng đồng bằng Bắc bộ của Nguyễn Đức Thiềm.
– Nhà ở cho vùng chịu ảnh hưởng cua Fơn Trường Sơn của Trần Quốc An, Ngô Huy Ánh.
– Một giải pháp mới về kết cấu nhà ở có tầng bằng tre và gỗ xoan ở Vân Giang – Hải Hưng của Bùi Hữu Thịnh, Nguyễn Văn Thái, Trịnh Hòa Linh.
– Nhà ở nông thôn buôn làng Tây Nguyên của Vũ Hồng Hải, Trần Xuân Diễm.
– Nhà ở nông thôn vùng kinh tế mới của Lê Văn Vượng.
– Ngôi nhà truyền thống và kiến trúc nông thôn Bắc bộ của Nguyễn Trực Luyện.
– Nhà ở của một làng đánh cá ven biển của Hoàng Văn Thịnh.
– Nhà ở nông thôn đồng bàng sông Cửu Long của nhóm Nguyễn Hông Việt.
– Nhà ở nông thôn miền Trung Việt Nam của Ngô Viết Thụ .
– Nhà ở cho vùng dân tộc Mường của Đỗ Hậu v.v…
Trong đó có 5 đề tài được đánh giá cao chọn thi vào vòng 2, đó là các đề tài:
• Nhà ở như một đơn vị cân bằng sinh thái của Nguyễn Luận và Trần Quang Trung. Phương án đưa ra một kiểu trại sản xuất gia đình trong những hợp tác xã ở vùng giáp ranh Hà Nội .

• Xây dựng một làng nổi để nâng cao sản xuất nông nghiệp trong vùng bị ngập nước định kỳ ở châu thổ sông Mê Công của Bùi Quang Ngân. Đề tài đã đề xuất ý kiến sử dụng vật liệu và phương pháp hiện đại nhằm vận dụng những tiến bộ mới vào điều kiện khó khãn của một ngôi nhà truyền thống Việt Nam

• Nhà ở trên cọc có sàn nổi của Chu Tuyết Mai và Dương Ngọc Bích. Đề tài đưa ra giải pháp cho vấn đề di chuyển định kỳ nhà ở trong mùa mưa lũ tại một số vùng châu thổ phía Bắc Việt Nam (81).
• Nhà ở nông thôn và vấn đề làm tăng giá trị kinh tế cây cói nhằm xây dựng làng mạc trong vùng châu thổ phía Bắc của nhóm Trần Anh Tú.
• Cải tiến nhà ở và quy hoạch một hợp tác xã nông nghiệp trong vùng phát triển chăn nuôi ngoại vi thành phố Hồ Chí Minh của Võ Đăng Dũng…