Quy hoạch và xây dựng nông thôn trong giai đoạn kinh tế kế hoạch tập trung

         Việc quy hoạch xây dựng nông thôn được triển khai và bắt đầu từ những năm 60 khi phong trào hợp tác hóa nông nghiệp phát triển ở miền Bắc. Lúc đầu lực lượng làm công tác quy hoạch còn nhỏ bé ở Viện quy hoạch đô thị nông thôn – Bộ Xầy dựng, đến năm 1980 công tác quy hoạch đã được phát triển mạnh mẽ và rộng khắp trên toàn quốc.
Công tác nghiên cứu quy hoạch và xây dựng chủ yếu trên địa bàn huyện được triển khai theo các thời kỳ:
a) Thờii kỳ từ năm 1960 đến năm 1970
      Công tác quy hoạch lấy xã – hợp tác xã làm đối tượng nghiên cứu theo phương châm: “Phục vụ sản xuất nông nghiệp, phục vụ đời sống dân lao động, phục vụ phong trào hợp tác hóa. Đã lựa chọn các xã có phong trào hợp tác hóa mạnh, có khả năng yêu cầu xây dựng lớn để thiết kế quy hoạch thí điểm, sau đó mở ra diện rộng. Nội dung của quy hoạch
chủ yếu là :
– Cải tạo, chấn chỉnh trật tự, vệ sinh trong làng xóm cũ.
– Xây dựng mới các cơ sở kinh tế kỹ thuật phục vụ sản xuất theo hướng hợp tác hóa.
– Bổ sung các công trình lợi ích công cộng như trường học, bệnh xá, cửa hàng mua bán, nhà trẻ, giếng nước, nhà vệ sinh, cải thiện các ao tù, đường sá, xây dựng nhà văn hóa, tôn tạo các di tích lịch sử, di tích ván hóa, cảnh quan, quy hoạch cải tạo làng xã, di chuyển một sô’xóm nhỏ giải phóng đòng ruộng đưa cơ giới vào canh tác, bố trí các công trình sản xuất trong hợp tác xã, các công trình công cộng trong trung tâm xã, cải thiện điều kiện ở, cải tạo xây dựng nhà ở, sắp xếp lô đất ở ngăn nấp trật tự, cải tạo đường làng, ngõ xóm, hồ ao, nâng cấp điều kiện vệ sinh ở thôn xóm…
      Mở đầu là quy hoạch thôn Đào Viên,xã Dân Tiên,huyện Khoái Châu (Hưng Yên), được xây dựng thực nghiệm bằng kinh phí của Nhà nước, xây các loại nhà gia đình bán cho các hộ nông dân. Sau thực nghiệm tại thôn Đào Viên, đã triển khai nghiên cứu quy hoạch mở rộng nhiều xã khác để chỉ đạo các hợp tác xã và nhân dân xây dựng. Khi các họp tác xã cấp thấp phát triển lên hợp tác xã cấp cao ở toàn xã, với phong trào 5 tấn thóc, 2 con lợn, 1 lao động trên 1 ha gieo trồng được phát triển rộng khắp thì công tác quy hoạch cải tạo xã, hợp tác xã được đẩy mạnh và đã xây dựng được nhiều xã điển hình tiên tiến. Việc xây dựng công trình thủy lợi và quy hoạch đồng ruộng được hoàn thiện. Các công trình sản xuất, khu trung tâm xã, xây dựng nhà ở nông thôn đã được quan tâm. Ao, hồ, đường làng ngõ xóm được cải tạo phong quang sạch đẹp.
Nhận xét:
+ Công tác quy hoạch nông thôn ở giai đoạn này là quy hoạch cải tạo xã – HTX lấy địa bàn xã – HTX để nghiên cứu quy hoạch.
+ Mặc dù còn nhiều hạn chế như: Chưa sát với thực tế ở nông thôn, với điều kiện kinh tế và tâm tư tình cảm của người nông dân, nên chưa đưa ra được giải pháp thích hợp trong quá trình thực hiện như việc chia các lô đất ở một cách cứng nhắc nên hậu quả việc di chuyển dân cư ở một số làng xóm đến các điểm mới không thành công. Tuy vậy, phương hướng đi vào quy hoạch cải tạo xã – HTX, cùng với các đò án quy hoạch xã – HTXđã đóng góp tích cực thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển cải thiện điêu kiện ở và sinh hoạt công cộng ở nông thôn. Đây là hướng đi đúng trong giai đoạn đàu.
b) Thời kỳ từ năm 1970 đến năm 1988
       Thực hiên Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ IV và lần thứ V, chúng ta đã tăng cường xây dựng cấp huyện, tổ chức lại sản xuất, phân bố lại lao động xây dựng cơ cấu kinh tế nông – công nghiệp huyện. Trên địa bàn huyện tập trung sức phát triển mạnh nông nghiệp coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp một bước lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa.
       Một cao trào làm quy hoạch xây dựng địa bàn huyện đã diễn ra rất sôi động vào những năm 1974, 1975. Trọng tâm của công tác quy hoạch trong thời kỳ này là lập đồ án quy hoạch xây dựng vùng huyện. Nhiều huyện được chọn làm huyện điểm để tiến hành quy hoạch như huyện Đông Hưng-Thái Bình, huyện Nam Ninh-Nam Định, huyện Thọ Xuân Thanh Hóa. Nội dung quy hoạch xây dựng vùng huyện trên cơ sở quy hoạch phát triển sản xuất nông-lâm-ngư nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, tiến hành bố trí hệ thống công trình phục vụ sản xuất ở 3 cấp : Toàn huyện, ở tiểu vùng – cụm kinh tế kỹ thuật và ở hợp tác xã (hình 1.14). Cải tạo lại mạng lưới dân cư trên địa bàn huyện theo hướng sản xuất lớn và tổ chức tốt đời sống ở nông thôn. Bô’ trí hệ thống công trình phục vụ công cộng ở huyện, ở tiểu vùng và ở xã. Quy hoạch mạng lưới công trình kỹ thuật hạ tầng: Giao thông, cấp điện cấp nước và thoát nước cho vùng huyện.