Sơ lược về Thị tứ làng xã

Việt Nam là một nước có nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp. Ớ nông thôn lấy Làng làm đơn vị cơ sở. Làng xã Việt Nam liên kết với nhau một cách chặt chẽ, tạo thành một kết cấu vững chắc trước những biến động của tự nhiên và xã hội. Làng xã chính là nơi diễn ra mọi hoạt động sản xuất, dịch vụ, sinh hơạt văn hổa ở nông thôn. Văn minh làng xã tiêu biểu cho lối sống Việt Nam. “Làng vốn là một đơn vị tụ cư, đơn vị kinh tế, đơn vị tín ngưỡng và sinh hoạt văn hóa cộng đồng của người Việt” (49). Làng là quê hương, là nơi gán bó cả cuộc đời mỗi người dân Việt Nam ; Họ “mong được sống ở làng và chết, được chết ở làng”.
Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, làng xã lúc nào cũng giữ một vị trí hết sức quan trọng trên tất cả các lĩnh vực.
Làng là cơ sở kinh tế nông nghiệp cung cấp sản phẩm nông nghiệp cho đất nước và xuất khẩu, là nguồn nhân lực cho mọi hoạt động kinh tế xã hội Việt Nam.
Nhận biết dược vai trò của làng xã, thời phong kiến, giai cấp thống trị đã dùng làng làm đơn vị hành chính cấp cơ sở quản lý đến tận người dân, biến làng thành một đơn vị quản lý xã hội kinh tế v.v…
Thời Pháp thuộc, thực dân Pháp cũng lấy địa bàn làng xã để nghiên cứu và đề ra những chính sách đô hộ. Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, đã xuất hiện nhiều công trình chuyên khảo về làng xã nông thôn của các nhà nghiên cứu người Pháp cũng như người Việt.
Hầu hết các tác phẩm nghiên cứu về nông thôn – làng xã mới chỉ đề cập tới các khía cạnh xã hội học, kinh tế, sử học và tâm lý, rất ít công trình nghiên cứu dưới khía cạnh kiến trúc và quy hoạch làng xã Việt Nam.
Từ ngày hòa bình lập lại đến nay Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm đến việc xây dựng nông thôn mới. Với chủ trương “xóa đói giảm nghèo làm giàu họp pháp” thực hiện theo lời dạy của Bác Hồ, làm cho “người nghèo thì đủ ãn, người đủ ăn thì khá giàu, người giàu thì càng giàu thêm” (54) đã xây dựng nông thôn vững mạnh từng bước
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ IV, V và Nghị quyết 50/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng về công tác xây dựng nông thôn, tăng cường cấp huyện. Trên toàn quốc từ Trung ương đến các tỉnh đã tiến hành điều tra, nghiên cứu, lập quy hoạch tổng thể vùng huyện, cho kế hoạch trước mắt cũng như lâu dài. Công tác này đã có một số kết quả nhất định. Chương trình nghiên cứu khoa học về quy hoạch và xây dựng đồng bộ địa bàn huyện ra dời.
Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII đã ra Nghị quyết 5 NQ/HNTW; : “Tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế xã hội nông thôn” (7) và chỉ đạo: “Nghiên cứu giải quyết các vấn đề về quy hoạch xây dựng nông thôn mới, bô’ trí các điểm dân cư, kết cấu hạ tầng, kiến trúc nông thôn, tổ chức cuộc sống, bảo vệ và cải thiện môi trường sống” (7), Đảng nêu rõ “… địa bàn xã, là đàu mối trực tiếp, thực hiện triển khai chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước”, cụ thể là : “Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội và an ninh, quốc phòng trên địa bàn xã” (7).
Trong bài phát biểu của đồng chí Tổng bí thư Đỗ Mười tại hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII ngày 3 tháng 6-1993 lại nhấn mạnh:
“… Cấp xã có vị trí rất quan trọng vì đây là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện mọi đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước… Trong thời gian tói, chính quyền xã cần tập trung thực hiện chức năng quản lý Nhà nước trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội ở địa phương, xây dựng và chỉ đạo thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội… bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn, xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội ở nông thôn” (54).