Thẻ: kiến trúc

Phân loại nhà ở thị tứ (các loại nhà ở thị tứ)

Phân loại nhà ở thị tứ (các loại nhà ở thị tứ)

Kiến trúc xưa nay
a) Những cơ sở phân loại nhà ở thị tứ Có nhiều yếu tố tác động đến nhà ở làm cho chúng có những đặc điểm khác nhau, đó là cơ sở cho sự phân loại. Những yếu tố đó là : Yếu tố địa lý tự nhiên, yếu tố xã hội, phương pháp xây dựng, quy mô, tính chất và chức năng nhà ở. Đối với nhà ở thị tứ trong các làng xã xét về dịa lý bản thân nó nằm trong một vùng, có tính chất thống nhất do đó nhà ở thị tứ ít có sự khác nhau giũa các khu vực trong vùng. Hiện nay, Nhà nước chưa có chủ trương đầu tư xây dựng nhà ở cho dân cư ở nông thôn do dó việc xây dựng nhà ở tại các thị tứ vẫn do dân tự đầu tư xây dựng, dưới sự quán lý hướng dẫn của chuyên môn ngành xây dựng. Với diều kiện kinh tế của dân cư tại các thị tứ và cả cảnh quan chung, việc xây dựng nhà ở thị tứ đa phần là nhà ở nhỏ thấp tầng, theo phương p
Khái niệm về loại hình nhà ở thị tứ

Khái niệm về loại hình nhà ở thị tứ

Kiến trúc xưa nay
Từ lâu, nhà ở nông thôn chỉ được xem như một loại nhà ở đơn thuần cho mọi người sống trong cộng đồng làng xã. Vì thế tất cả các công trình nghiên cứu về nhà ở thường chỉ xoay quanh hai lĩnh vực: nhà ở nông thôn và nhà ở đô thị. Thực tiễn khảo sát xã hội về nhà ở vùng nông thôn cũng như các điều kiện kinh tế kỹ thuật khác mà nội dung đã trình bày ở phần trên thấy rằng: a) Theo xu thế ở nông thôn nói chung vùng đồng bằng Bắc bộ nói riêng đất canh tác ngày càng thu hẹp, việc áp dụng tiến bô khoa học kỹ thuật v&
Mô hình kiến trúc trung tâm của làng xã

Mô hình kiến trúc trung tâm của làng xã

Kiến trúc xưa nay
Như đã phân tích và tổng hợp quá trình phát triển dân cư nông thôn qua các thời kỳ ta nhận thấy rằng: Thực tiễn cũng như lý luận nghiên cứu về trung tâm làng xã trong giai đoạn hợp tác hóa nông nghiệp chỉ xem nặng về các công trình công cộng, các công trình sản xuất và các công trình phục vụ nông nghiệp, nhà ở tại trung tâm không được nghiên cứu như một môi trường hòa đồng với mọi hoạt động kinh doanh sản xuất và dịch vụ trong khu vực. Vì thế, trung tâm làng xã trong nhiều năm đã ít phát huy tác dụng trong vai trò khai thác tiềm năng phong phú của địa phương. Vô hình chung đó cũng là nguyên nhân hạn chế sự phát triển của xã hội. Mãi đến những năm cuối của thập kỷ 80, khi có chủ trương của Đảng và Chính phủ về việc phát triển nông thôn theo hướng kinh tế thị trường, tại các làng xã nông th
Xu thế chuyên đổi không gian bô’ cục nhà ở chiêu ngang sang chiêu dọc

Xu thế chuyên đổi không gian bô’ cục nhà ở chiêu ngang sang chiêu dọc

Kiến trúc xưa nay
Xu thế chuyên đổi không gian bô' cục nhà ở chiêu ngang sang chiêu dọc Nhà ở nồng thôn bố cục theo khuôn viên nằm sâu say lũy tre làng từ lâu đã là điển hình cho một thời kỳ kéo dài của nền kinh tế tự cung tự cấp. Trong thời kỳ tập thể hóa nhà ở nông thôn lại bị giảm bớt chức năng ban đầu của nó, tuy vậy bố cục không gian của nó về cơ bản vẫn theo lối cũ. A- Nhà chính : không gian kết hợp nhiều chức năng : tiếp khách, thờ cúng, sinh hoạt gia đình, ngủ B - Nhà phụ : Bếp, kết hợp sản xuất và làm chỏ ăn Hình 11.27. a) Nhà ở Khương Đình - Thanh Trì - Hà Nội Hỉnh 11.28. Sơ đò chuyển biến chức năng - không gian nhà ở dạng thị thôn tại các các làng - xã ĐBBB trong điêu kiện phát triển kinh tế thị trường Kinh tế thị trường phát triển, nông thôn biến động rõ rệt : nhà ởcó xu thế chuyển
Những hình thái phát triển tụ điểm dân cư bán thị trong làng xã

Những hình thái phát triển tụ điểm dân cư bán thị trong làng xã

Kiến trúc xưa nay
kiến trúc nông thôn nói chung, mà đặc biệt là kiến trúc nhà ở nông thôn chịu ảnh hưởng nhiều nhất qua các diễn biến kinh tế - xã hội của thời đại. Hiện nay dưới tác động của việc chuyển đổi nền kinh tế baocấp sang kinh tế thị trường, vai trò của kinh tế gia đình được xác nhận và khuyến khích phát triển với nhiều thành phần, dẫn đến các hộ nông thôn bị phân hóa nghề nghiệp một cách mạnh mẽ. Cùng với sự chuyển đổi nghề nghiệp (công ãn việc làm) từ nông nghiệp sang nghề phi nông nghiệp là sự thay đổi không gian làm việc và môi trường sống của các dân cư. Vì thế các diểm dân cư trong làng xã có sự biến động rõ rệt; các hộ mới hình thành do nghề mới thì tách hộ, các hộ có thêm nghê mới cũng chuyển đổi không gian hoặc vị trí, còn các hộ khác do nhu cầu sinh hoạt cao thì di chuyển đến nơi có điều

Kỹ thuật xây dựng và hạ tầng

Kiến trúc xưa nay
Trong những năm gần đây, nhất là từ khi có chủ trương phát triển kinh tế của Đảng về phát triển kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa đã và đang đặt ra yêu cầu cấp bách về việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống giao thông nông thôn cùng với việc xây dựng kết cấu hạ tầng trong nông nghiệp. Đây là nhân tố hết sức quan trọng trong việc phát triển sản xuất, mở rộng thị trường ỏ các làng xã. Mặt khác nó cũng là yếu tố hình thành các tụ điểm giao lưu kinh tế qua lại giữa nông nglĩỉệp với công nghiệp, giữa đô thị với nông thôn.Thực

Đặc điểm dân cư, trình độ dân trí với con đường xây dựng nông thôn mới

Kiến trúc xưa nay
Qua tài liệu điều tra các tỉnh thuộc đồng bằng Sông Hồng là một vùng có nhiều thành phố, thị xã và thị trấn lớn, đồng thời cũng là nơi có tỷ lệ dân cư tập trung cao để phân tích và nhận định, thấy rằng: • Bình quân toàn vùng là 1085 người/lkm2,có dân số trung bình 13.517.640 người, trong đó số dân thành thị là 2.346.840 người và dân nông thôn: 11.170.800 người (97) chiếm gần 82%. • Tuy vậy tỷ lệ dân cư giữa thành thị và nông thôn trong vùng không đồng đều. ơ Hà Nội tỷ lệ dân cư nông thôn là 48%, ở Hà Tây chiếm 93%, Thái Bình là 94%, Hải Dương và Hưng Yên đến 95% (Xem bảng A). Với sô' liệu điều tra, tổng hợp như trên thấy rằng (trừ hai thành phố Hà Nội và Hải Phòng) đại bộ phận các tỉnh trong vùng tỷ lộ dân cư nông thôn đều lớn hơn 90%, do đó khẳng định tỷ lệ lao động nông nghiệp và lối

Vấn đề dân tộc và phong tục tập quán của dân cư làng xã

Kiến trúc xưa nay
Làm chủ và chiếm lĩnh đồng bằng là công sức của nhiều dân tộc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Nhà nghiên cứu dân tộc học Diệp Đình Hoa đã chứng minh điều đó qua việc nghiên cứu điều tra cụ thể ở tỉnh Thái Bình nơi mà xưa nay vẫn quan niệm chỉ có người Việt sinh sống, thì thấy còn có mặt của số ít các dân tộc anh em như Tày, Thái, Mường, Khơ me và các dân tộc khác . Đó cũng chính là một trong những nét làm nên tính đa dạng của làng xã, là yếu tố biện chứng thể hiện tính chất rộng mở và khé
Kinh tế nông hộ với việc phát triển làng xã

Kinh tế nông hộ với việc phát triển làng xã

Kiến trúc xưa nay
Nghiên cứu về kinh tế nông hộ PGS. TS. Lê Đình Thắng đã nhận định: "Ngày nay ngay cả ở hầu hết các nước tư bản phát triển, các hình thức kinh tế nông nghiệp đều dựa chủ yếu vào các nông trại, đặc biệt là nông trại gia đình, coi đó là hình thức có hiệu quả hợp lý trong nhà nông" (83). Ở nước ta vấn dề kinh tế nông hộ được khẳng định trong Nghị quyết 10NQ/TW và Bộ Chính trị về "Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp" với chính sách "Nhà nước công nhận sự tồn tại lâu dài và tác dụng tích cực của kinh tế cá thể tư nhân trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội... bảo hộ quyền làm ãn chính đáng và thu nhập hợp pháp của các hộ cá thể, tư nhân, quyền thừa kế sử dụng doanh nghiệp của con cái họ...". (11). Mấy năm gần đây, qua thực tế phát triển nông nghiệp ở nông thôn, bộ mặt làng xã đã đổi thay, khôn
Thương nghiệp, dịch vụ nông thôn với kiến trúc ở nông thôn

Thương nghiệp, dịch vụ nông thôn với kiến trúc ở nông thôn

Kiến trúc xưa nay
Như đã nêu ở phần trên, thủ công nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc sản xuất hàng hóa cho dân cư làng xã. Mặt khác thủ công nghiệp cũng vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của việc phát triển mở rộng buôn bán, trao đổi hàng hóa. Từ lâu chợ làng và phường hội buôn bán tồn tại ở khắp nơi khiến cho nông nghiệp và thủ công nghiệp hòa trộn với nhau, thống nhất bổ sung cho nhau phát triển. Theo nghiên cứu cúa Nguyễn Đức Nghinh và Trần Thị Hòa thì ở vùng Bắc bộ (trong phạm vi tỉnh Hà Nam, Nam Định, Thái Bình) cứ khoảng xấp xỉ 7km hoặc từ ba đến sáu làng có một chợ. Các chợ họp định kỳ theo phiên, mỗi phiên khoảng nửa ngày. Khoảng 3-5 chợ phiên họp thành một chu kỳ khép kín trong một tháng. Như thế trong một vùng 4 đến 7 làng với khoảng cách đi bộ cho phép ngày nào cũng có chợ (49). Chợ họp