Thẻ: thị tứ làng xã

Thị tứ làng xã và những kiến nghị

Thị tứ làng xã và những kiến nghị

Kiến trúc xưa nay
LỜI TẠM KẾTLUẬN + Phát triển kinh tế thị trường ở nông thôn Việt Nam hiện nay là một quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, nó diễn ra đồng thời với sự chuyển đổi ngành nghề trong nông thôn. Cùng với sự chuyển đổi ngành nghề là một quá trình chuyển đổi thành phần dân cư từ thuần nông sang thành phần không thuần nông. Thành phần dân cư phi thuần nông có xu hướng ngày càng phát triển, vì thế các nhu cầu về môi trường ăn ở, sinh hoạt và làm việc cũng đổi theo. + Thực trạng tại các làng xã nông thôn đồng bằng Bắc bộ cũng như một số vùng khác ở nước ta dang hình thành một cách tự phát các tụ điểm dân cư phi nông nghiệp và bán nông nghiệp. Đây là mầm mống tụ điểm dân cư mang tính đô thị trong làng xã. Cân được nghiên cứu định hướng xây dựng một cách có cơ sở khoa học. + Trên cơ sở lý luận và kh
Đề xuất mẫu nhà ở thị tứ làng xã

Đề xuất mẫu nhà ở thị tứ làng xã

Kiến trúc xưa nay
Trong việc thiết kế mẫu nhà ở cho thị tứ trung tâm Liên Minh nhận thấy đây là thị tứ mang chức năng ở dịch vụ là chủ yếu. Vì thế mẫu nhà ởđề xuất chủ yếu loại nhà ợ cửa hàng dịch vụ (Xem hình III.20, III.21,III.22: mẫu nhà ở cửa hàng nhà vườn). Trong thực tế khi xây dựng các hộ thường bỏ bớt không làm được ngay theo mẫu hoàn chỉnh. Do đó trong thiết kế nên phân giai đoạn nhỏ cho các hộ tự xây để cuối cùng khi xây hoàn chỉnh giai đoạn trước không ảnh hưởng đến giai đoạn sau, mà sử dụng trước mắt vẫn hợp lý. Hình III.18.Mộtsô' hình ảnh về thị tứ trung tâm Liên Minh - Vụ Bản - Nam Hà Xem thêm: Bán nhà Hà Nội
Thị tứ khu vực – Thị tứ Vân Bảng

Thị tứ khu vực – Thị tứ Vân Bảng

Kiến trúc xưa nay
Thị tứ Vân Bảng là thị tứ khu vực làng Vân Bảng, Ngũ Trang và Hổ Sơn. Qua đặc điểm của khu vực không có nét gì đặc biệt ngoài việc kinh doanh sản xuất nông nghiệp và kinh doanh dịch vụ, buôn bán trao đổi hàng nông, công nghiệp phục vụ nhu cầu sinh hoạt ngày càng cao của nhân dân trong khu vực với số dân gần 3200 người. Do đó có thể xác định ngay chức nãng ở dịch vụ - nông nghiệp. Theo yêu cầu chức năng của thị tứ Vân Bảng, phương án kiến trúc quy hoạch đề xuất chọn vị trí xây dựng thị tứ theo đường trục giao thông dọc qua giữa làng Vân Bảng đi Hổ Sơn. Trọng tâm chính là khu vực sân kho và khu công cộng cũ của làng và hợp tác xã. Lấy các công trình công cộng của khu vực làm điểm nhấn như trường phổ thông cấp I, Trụ sở HTX, Nhà trẻ v.v... còn lại trên hai bên của tuyến đường bô' trí nhà ở t
Thị tứ làng xã Liên Minh huyện Vụ Bản, Nam Định thực nghiệm và phát triển

Thị tứ làng xã Liên Minh huyện Vụ Bản, Nam Định thực nghiệm và phát triển

Kiến trúc xưa nay
Từ những đặc điểm cơ bản của làng xã Liên Minh như đã nêu ở trên nhận thấy rằng: xã Liên Minh nằm trong khu vực ảnh hưởng lớn của quy hoạch thành phố nam định cũng như phạm vi mở rộng của thị trấn Gôi. Mặt khác cũng không phải làng xã có điều kiện phát triển du lịch, tín ngưỡng hay làm thủ công nghiệp. Vì thế nhiệm vụ chính thiết kế quy hoạch thị tứ làng xã xã Liên Minh là trung tâm văn hóa giáo dục dịch vụ nông nghiệp và hành chính. Do đó thị tứ trung tâm xã Liên Minh là loại thị tứ mang chức năng chính là ở dịch vụ - văn hóa giáo dục hành chính và nông nghiệp. Phương án chọn thiết kê xây dựng Trong quá trình thiết kế quy hoạch thị tứ trung tâm xã Liên Minh đã tiến hành nhiều phương án sau đó quy tụ vào hai phương án chính và cuối cùng là phương án II (phương án chọn) được xã Liên Minh

Đặc điểm làng mạc dân cư, văn hóa xã hội xã Liên Minh

Kiến trúc xưa nay
a) Đặc điểm địa hình tự nhiên Liên Minh là một xã miền đồng bằng Bắc bộ thuộc huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định, phía Bắc giáp xã Liên Bảo và Kim Thái qua con sông Hương, phía Đông giáp xã Thành Lợi và Đại Thắng qua con sông Chanh, phía Tây giáp xã Tam Thanh qua con sông Câu Đen, phía Nam nối liền với xã Yên Phúc (thuộc huyện Ý Yên) và xã Vĩnh Hào. Chiều dài Bắc Nam cũng như Đông Tây khoảng 3km. Diện tích toàn xã xấp xỉ 10,3km (1026,32 ha). Địa hình xã Liên Minh vuông như bàn cờ. Trong xã có sông, có núi bao quanh các đông lúa và đồng màu, phía Bắc địa hình cao (nhiều đồng màu) thoai thoải về phía Nam (nhiều đồng chiêm trũng). Làng xóm và đồng ruộng xen kẽ nhau như những lượn sóng từ Bắc xuống Nam. Liên Minh nằm giữa đồng bằng sông Hồng, chịu ảnh hưởng của các chế độ gió mùa. Từ tháng 11 đến t
Nhà ở – nhà xưởng

Nhà ở – nhà xưởng

Kiến trúc xưa nay
nhà ở kiêm nơi sản xuất chế biến thủ công nghiệp hay gọi là Nhà ở xưởng là loại nhà ở thị tứ, ngoài chức năng ở sinh hoạt cho các thành viên trong hộ, có thể có một phần cho người làm thuê ở còn có chức năng là nơi sản xuất chế biến các mặt hàng thủ công nghiệp như làm mộc, rèn, thêu, dệt, đan lát, làm bánh kẹo, làm đồ dùng sinh hoạt, sản xuất v.v... (ở đây chỉ là không gian xưởng nhỏ, còn xưởng lớn nghiên cứu ở khu vực khác ngoài nhà) hoặc có một phần chức năng sản xuất nông nghiệp, ngoài ra cồn có không gian giao dịch và trao đổi sản phẩm (hình III.9a, b, c, d, và hình III.10a, b, c). Hình 111.9 . Nhà ở kết hợp xưởng +Hướng tổ chức không gian : * Bố trí rải theo chiều ngang giữa không gian ở với nơi sản xuất - Bô' trí bên cạnh không gian ở - Bố trí ở sân sau không gian ở - Bô
Phân loại nhà ở thị tứ (các loại nhà ở thị tứ)

Phân loại nhà ở thị tứ (các loại nhà ở thị tứ)

Kiến trúc xưa nay
a) Những cơ sở phân loại nhà ở thị tứ Có nhiều yếu tố tác động đến nhà ở làm cho chúng có những đặc điểm khác nhau, đó là cơ sở cho sự phân loại. Những yếu tố đó là : Yếu tố địa lý tự nhiên, yếu tố xã hội, phương pháp xây dựng, quy mô, tính chất và chức năng nhà ở. Đối với nhà ở thị tứ trong các làng xã xét về dịa lý bản thân nó nằm trong một vùng, có tính chất thống nhất do đó nhà ở thị tứ ít có sự khác nhau giũa các khu vực trong vùng. Hiện nay, Nhà nước chưa có chủ trương đầu tư xây dựng nhà ở cho dân cư ở nông thôn do dó việc xây dựng nhà ở tại các thị tứ vẫn do dân tự đầu tư xây dựng, dưới sự quán lý hướng dẫn của chuyên môn ngành xây dựng. Với diều kiện kinh tế của dân cư tại các thị tứ và cả cảnh quan chung, việc xây dựng nhà ở thị tứ đa phần là nhà ở nhỏ thấp tầng, theo phương p
Thành phần dân cư phi nông nghiệp và nửa nông nghiệp trong làng xã là nhân tố tạo nên nhà ở thị tứ

Thành phần dân cư phi nông nghiệp và nửa nông nghiệp trong làng xã là nhân tố tạo nên nhà ở thị tứ

Kiến trúc xưa nay
Nội dung chương II đã căn cứ vào số liệu điều tra xã hội học phân tích về sự chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp ở nông thôn trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, chứng tỏ thành phần dân cư phi nông nghiệp xuất hiện ngày một tăng.Bản chất dân cư phi nông nghiệp và bán phi nông nghiệp ở làng xã đa phần xuất thân từ nông dân làm nông nghiệp. Mặc dầu có thay đổi vị trí ở và nghề nghiệp họ vẫn là người ở làng, có quan hệ huyết thống họ hàng với dân làng, chịu sự chi phối của phong tục tập quán trong làng. Vê công việc vẫn còn bị ảnh hưởng s&aci
Cơ cấu chức năng chính của nhà ở thị tứ làng xã vùng đông bằng Bắc Bộ

Cơ cấu chức năng chính của nhà ở thị tứ làng xã vùng đông bằng Bắc Bộ

Kiến trúc xưa nay
Như phần trên đã phân tích, nhà ở thị-thôn được hình thành là do có sự xuất hiện thành phần dân cư phi nông nghiệp và bán nông nghiệp tại các làng xã ở nông thôn. Điều đó cũng có nghĩa là ngôi nhà ở tại thị tứ được xây dựng để phục vụ cho các hoạt động ở, nghỉ ngơi, sinh hoạt, làm nghề và kinh doanh của đối tượng dân cư mới hình thành í trong điềuìkiện phát triển kinh tế thị trường. Có hai loại yêu cầu chính đối với nhà ở thị tứ dó là: yêu cầu ổn định và yêu cầu không ổn định. Yêu càu ổn định là yêu cầu không có sự biến đổi lớn theo không gian và thời gian còn yêu càu không ổn định là yêu cầu biến đổi theo không gian và thời gian. Dựa theo các yêu cầu ổn định và các yêu cầu không ổn định phân ra hai .loại chức nãng chính tương ứng trong nhà ở tại khu vực thị tứ là chức năng không đổi (c
Khái niệm về loại hình nhà ở thị tứ

Khái niệm về loại hình nhà ở thị tứ

Kiến trúc xưa nay
Từ lâu, nhà ở nông thôn chỉ được xem như một loại nhà ở đơn thuần cho mọi người sống trong cộng đồng làng xã. Vì thế tất cả các công trình nghiên cứu về nhà ở thường chỉ xoay quanh hai lĩnh vực: nhà ở nông thôn và nhà ở đô thị. Thực tiễn khảo sát xã hội về nhà ở vùng nông thôn cũng như các điều kiện kinh tế kỹ thuật khác mà nội dung đã trình bày ở phần trên thấy rằng: a) Theo xu thế ở nông thôn nói chung vùng đồng bằng Bắc bộ nói riêng đất canh tác ngày càng thu hẹp, việc áp dụng tiến bô khoa học kỹ thuật v&