Thành phần dân cư phi nông nghiệp và nửa nông nghiệp trong làng xã là nhân tố tạo nên nhà ở thị tứ

Nội dung chương II đã căn cứ vào số liệu điều tra xã hội học phân tích về sự chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp ở nông thôn trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, chứng tỏ thành phần dân cư phi nông nghiệp xuất hiện ngày một tăng.
Bản chất dân cư phi nông nghiệp và bán phi nông nghiệp ở làng xã đa phần xuất thân từ nông dân làm nông nghiệp. Mặc dầu có thay đổi vị trí ở và nghề nghiệp họ vẫn là người ở làng, có quan hệ huyết thống họ hàng với dân làng, chịu sự chi phối của phong tục tập quán trong làng. Vê công việc vẫn còn bị ảnh hưởng sâu sắc của nghề nông.
Các nghề nghiệp phi nông nghiệp ở trong làng xã thường là nghề thủ công nghiệp nhỏ, hoặc nghề chế biến nông sản thực phẩm, hay các dịch vụ đơn giản, buôn bán nhỏ phục vụ cho nông nghiệp, cho đời sống văn hóa xã hội và sản xuất v.v… trong làng xã.
Vì thành phần dân cư phi nông nghiệp chủ yếu xuất thân từ làm nông nghiệp, bản thân họ có đất canh tác. Qua điều tra thấy rất ít hộ khi chuyển đổi nghề nghiệp, đã bán đất canh tác mà đa số hộ vẫn giữ lại để cho một số thành viên trong hộ tăng gia sản xuất. Họ coi ruộng đất canh tác là “Hậu cứ cuối cùng” phòng khi kinh doanh sản xuất phi nông nghiệp bị “thất bát”. Họ coi khi “chân phi nông nghiệp” chưa vững thì phải “đi hai chân” phi nông nghiệp và nông nghiệp. Chính xuất phát từ đặc điểm quá độ của thành phần cư dân phi nông nghiệp như vậy phần nào lý giải cho số liệu điều tra của Viện xã hội học: Tỷ lệ hộ hỗn hợp phi nông nghiệp với bán nông nghiệp là hộcó tỷ lệ cao nhất (hơn 80%).
Xem xét ở góc độ nghề nghiệp trong một hộ có thành phần lao động phi nông nghiệp và nửa nông nghiệp thấy rằng: Trong một hộ một phần thành viên trong hộ làm nghề phi nông nghiệp, một phần vẫn làm nông nghiệp như bố hoặc con làm nghề dịch vụ, buôn bán, mẹ làm ruộng, chăn nuôi hay ngược lại bố mẹ làm ruộng con cái làm nghề phi nông nghiệp. Thậm chí ngay một lao động chính trong hộ cũng làm hai nghề: một mặt làm ruộng trong “đông vụ chí kỳ” nhưng khi rảnh rỗi lại chuyển sang làm nghề phi nông nghiệp.
Điều này cũng chứng tỏ rằng rất ít hộ thuần phi nông nghiệp; do đó đặt ra cho chức năng nhiệm vụ của nhà ở loại này không hoàn toàn giống nhà ở cho cư dân phi nông nghiệp ở vùng đô thị mà còn có thêm chức năng khác.
Theo điều tra của tác giả thì các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ, buôn bán của thành phần dân cư phi nông nghiệp và bán nông nghiệp có các đòi hỏi về dạng không gian ở như sau:
+ Loại không cần đến không gian làm việc tại nhà (hoặc chỉ cần không gian giao dịch) đó là nhà ở của các thành viên có nghề làm thuê cho những nơi, xã khác chuyên nghiệp hay bán chuyên (theo thời vụ nông dân), các thành viên hộ có các trang trại, các xưởng nhỏ tập trung ở nơi khác không gắn liền với nhà ở như các nhà thầu khoán, các thợ của các làng nghề, như nghề xây dựng ở Nội Duệ, Bắc Ninh, nghề mộc ở Thạch Thất-Hà Tây v.v…
+ Loại cần thiết đến không gian trong khu vực nhà, coi như một xưởng nhỏ trong nhà. Đó là nghề mộc khảm, rèn nguội, nghề dệt thủ công, và các nghề mỹ nghệ thủ công khác. Loại không gian này không nhất thiết ở trước mặt nhà mà có thể bố trí phía bên hoặc đằng sau có lối đi lại độc lập thuận tiện.
+ Loại có thể bố trí lẫn trong khu vực ở kết hợp phía trước và trong nhà đó là các hoạt động nghề nghiệp dịch vụ đơn giản như sửa chữa dụng cụ gia đình, may mặc, buôn bán hàng hóa, thu gom giới thiệu hàng v.v… Không gian cần được bố trí phía trước, tiếp xúc với đường giao thông để công việc mua bán, giao tiếp dịch vụ tiện lợi.