Thị tứ khu vực – Thị tứ Vân Bảng

Thị tứ Vân Bảng là thị tứ khu vực làng Vân Bảng, Ngũ Trang và Hổ Sơn. Qua đặc điểm của khu vực không có nét gì đặc biệt ngoài việc kinh doanh sản xuất nông nghiệp và kinh doanh dịch vụ, buôn bán trao đổi hàng nông, công nghiệp phục vụ nhu cầu sinh hoạt ngày càng cao của nhân dân trong khu vực với số dân gần 3200 người. Do đó có thể xác định ngay chức nãng ở dịch vụ – nông nghiệp.
Theo yêu cầu chức năng của thị tứ Vân Bảng, phương án kiến trúc quy hoạch đề xuất chọn vị trí xây dựng thị tứ theo đường trục giao thông dọc qua giữa làng Vân Bảng đi Hổ Sơn. Trọng tâm chính là khu vực sân kho và khu công cộng cũ của làng và hợp tác xã. Lấy các công trình công cộng của khu vực làm điểm nhấn như trường phổ thông cấp I, Trụ sở HTX, Nhà trẻ v.v… còn lại trên hai bên của tuyến đường bô’ trí nhà ở thị tứ theo loại nhà cửa hàng dịch vụ thông qua các nhà cửa hàng dịch vụ có thể tự điều tiết mọi nhu cầu hàng ngày về sinh hoạt và sản xuất cho người dân làng trong khu vực.

Phương thức thực hiện và huy động vốn xây dựng
Sau khi thống nhất chủ trương và thiết kế xong, việc trước tiên công khai thông báo xây dựng, đấu thầu mua đất xây dựng theo thiết kế.
+ Các công trình công cộng chung của làng xã như đường, chợ trường học, các nhà làm việc và sinh hoạt chung của làng xã sẽ lấy một phần kinh phí bán đất cho dân xây dựng nhà ở thị tứ dể xây dựng. Đồng thời huy động thêm các nguồn thu đóng góp khác hoặc hỗ trợ của Nhà nước với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”. UBND xã chịu trách nhiệm chính, dân làng thống nhất quản lý việc xây dựng theo chuyên ngành của huyện.
Các công trình chung của làng xã xây dựng đồng thời với việc xây dựng nhà ở của nhân dân, tạo nên khung cảnh chung của thị tứ, khi nhìn thấy thành quả, dân làng sẽ phấn khởi và tự hào hơn về làng xã của mình.
+ Nhà ở thị tứ của cá nhân do dân tự xây dựng theo yêu cầu riêng của mình nhưng phải tuân theo chỉ đạo chung như việc xây dựng nhà đô thị. Xa cử đội phụ trách xây dựng riêng hướng dẫn dân làm theo mẫu nhà đã được nghiên cứu trước dể tiện nghi và phù hợp với điều kiện riêng của mỗi hộđồng thời cũng phải đảm bảo sự hài hòa chung của đường phố thị tứ.
 Kết quả thực nghiệm và kiểm chứng vấn đè đê xuất sau một năm
– Đường phố thị tứ đã giải tỏa xong đang làm bó hè theo thiết kế theo các trục chính.
– Nhà ở của dân cư thị tứ đang xây dựng gần như kín đất, có nhiều hộ phân đoạn xây dựng theo điều kiện kinh tế của mình đã đưa vào sử dụng mở cửa hàng, như hàng ãn uống, hàng vật liệu xây dựng, hàng phân bón, dịch vụ khai thác v.v… bước đầu hình thành phố thị tứ.
– Các công trình công cộng, như chợ đã xây dựng xong với nhu cầu cấp bách hàng ngày dân đã đưa hàng hóa vào bán với số lượng lớn
Trường PTCS đang thi công, xong phần tầng I. Sân khấu ngoài trời đang xây lại, hồ ao trước khu UBND đang kê lại cho sạch sẽ.
 Kết quả kiểm chứng thực nghiêm xây dựng thị tứ sau 5 năm.
Thí tứ trung tâm Liên Minh được khỏi công xây dựng và hình thành cho đến nay (tháng 6 năm 2000) đã gần tròn 5 năm.
Việc chuẩn bị cho công tác xây dựng rất thuận lợi, được Đảng bộ và nhân dân xã Liên Minh hưởng ứng, ủng hộ. Được lãnh đạo huyện Vụ Bản quan tâm giúp đỡ. Với sự thống nhất cao giữa ý tưởng của tác giả và chủ trương của Đảng bộ, việc xây dựng thị tứ trung tâm Liên Minh được tiến hành. Sau một năm xây dựng – một thị tứ trong làng đã hình thành tương đối hoàn chỉnh.
Công việc xây dựng thị tứ bao gồm 2 khối:
– Khối nhà ở do dân tự xây theo hướng dẫn và quản lý của xã.
– Các công trình công cộng do xã đảm nhận dưới sự quản lý của huyện Vụ Bản và tỉnh Nam Hà.
+ Khối nhà ở thị tứ trong thị tứ trung tâm được xây dựng nhanh, trong những nãrh đầu các lô đất đấu thầu xây dựng nhà ở đều được phủ kín nhưng khi xây dựng không làm theo được các mẫu nhà đã thiết kế. Khả năng kinh tế của dân có hạn nên việc đầu tư xâydựng có mức độ, không thể hoàn chỉnh ngay được vì thế nhìn tổng thể chưa đồng bộ. Tuy vậy, trong 5 năm người dân phố thị tứ đã tích lũy, dành dụm và cũng đã xây dựng hoàn chỉnh dần, nhiêu nhà trên cơ sở mẫu thiết kế tự ý học tập, áp dụng có cải tiến các hình thức mặt nhà đường phố đô thị vào nhà của mình, đã xây dựng các không gian nhà tương đối hợp lý. Mặt khác nhiều nhà làm còn bất cập.

Mới chưa đầy 5 nãm sau khi xây dựng, đời sống kinh tế – xã hội của Liên Minh đã có nhiều tiến bộ rõ rệt. Chính quyền địa phương đang có kế hoạch phát triển “mô hình” thị tứ Liên Minh sang một số noi khác.
+ Các công trình công cộng trong thị tứ gồm có : đường phố thị, hệ thống chiếu sáng chung, công trình trường học, chợ trung tâm. Ngay từ những ngày đầu Đảng bộ và nhân dân xã đã quan tâm xây dựng trường PTCS trung học rồi tiểu học, đình, chợ trung tâm, hệ thống cống rãnh thoát nước, rải nhựa đường phố, trạm bưu điện xã… Vốn xây dựng các công trình công cộng lấy từ kinh phí đấu thầu đất xây nhà ở thị tứ, nguồn đóng góp của dân làng, các liên kết hợp tác và một phần do Nhà nước đầu tư.

Kết luận
+ Qua thực tế xây dựng thị tứ trung tâm Liên Minh đã chứng tỏ phần nào lý thuyết xây dựng mô hình thị tứ kiểu “Tiểu đô thị” trong làng xã là thích hợp và đáp ứng với lòng dân đông thời thấy đó là con đường đi tiếp cận với đô thị gàn nhất ngay địa bàn nông thôn làng xã – con đường đô thị hóa nông thôn kiểu mới.
+ Thực tế xây dựng thị tứ trung tâm xã Liên Minh trong một hoàn cảnh không có điều kiện thuận lợi hình thành như: không có đường quốc lộ qua khu dân cư, không có bến đợi, bến chờ giao thông hay ở làng có nghề thuyền thống v.v… mà chỉ có điều kiện như mọi làng xã khác bình thường trong vùng đồng bằng Bắc bộ mà vẫn thực hiện xây dựng một thị tứ trong làng thành công, làm chuyển biến hẳn cơ cấu lao động cơ cấu kinh tế thị trường trong làng xã. Điêu đó chứng tỏ rằng mô hình thị tứ kiểu “tiểu đô thị” củng sẽ xây dựng thành công ở các khu làng xã trong khu vực.
+ Việc xây dựng thị tứ trung tâm xã Liên Minh đã xuất hiện thêm nhiêu thành phần từ chuyên sản xuất nông nghiệp chuyển sang kinh doanh và sản xuất phi nông nghiệp. Chứng tỏ mô hình xây dựng thị tứ trong làng xã sẽ làm cơ sở góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp và cơ cấu kinh tế trong nông thôn, tạo công ăn việc làm cho nhân lực thừa do tỷ trọng người và đất canh tác thấp trong vùng.
+ Việc xây dựng các tuyến nhà ở thị tứ mới trong thị tứ trung tâm theo tuyến, chuỗi mảng chạy theo các trục đường phố thị tuy khối lượng số nhà không lớn nhưng nó làm tăng bộ mặt thị tứ lớn lên nhiều. Điều đó nói lên hiệu quả kiến trúc của phố thị hòa nhập với cảnh quan làng. Vì rải mỏng nhà ở theo tuyến nên không làm phá vỡ kết cấu nhà ở truyền thống trong làng các khu vực lân cận, đồng thời rất tiện cho việc mở rộng sau này.
+ Qua thực tế xây dựng thị tứ trung tâm Liên Minh, kết quả đã phản ánh các chức năng ở các khu vực rất rõ ràng. Vấn đề này đã chứng minh cho sự phân loại thị tứ, phân loại nhà ở theo chức năng là phù hợp và sát với thiết kế. Mỗi thị tứ phải dựa vào đặc điểm của làng xã đó mà xác dịnh chức năng cho đúng từ đó đến bước quy hoạch theo chức năng đã xác định.
+ Nhà ở thị tứ là nhà ở của dân cư thị tứ trong điều kiện kinh tế thị trường xét về mặt kinh tế nó là nhà sinh lợi, vì thế việc xây dựng trước mắt do dân tự xây và chia làm các giai đoạn phù hợp với kinh tế của mỗi hộ dưới sự quản lý hướng dẫn theo thiết kế của chuyên môn.
+ Qua việc tiến hành thực hiện xây dựng thị tứ Liên Minh nhận thấy rằng không hoàn toàn lo thiếu nguồn vốn xây dựng. Theo phương châm “mỡ nó rán nó” nghĩa là trong cơ chế thị trường tự nó điều tiết. Vấn đề là phải có kế hoạch chỉ đạo và hướng dẫn tạo điêu kiện thực hiện.
Trước hết đó là nguồn vốn trong dân tự điều tiết: Người muốn mua đất đấu thầu ở thị tứ không hoàn toàn cần có đủ kinh phí trước, họ có thể nộp sau, khi định ngày họ sế nhượng ngay nhà của mình ở giữa làng (nhà ở thuần nông) cho một người khác có nhu cầu. Thực tế ở xã Liên Minh diễn ra một biến động tự điều tiết như vậy. Người có điều kiện ít thì nâng cấp nhà còn người có điều kiện hơn chút thì vượt ra ngoài khu vực thị tứ để dựng nghiộp mới. Đó là việc đẩy mạnh sự chuyển đổicơ cấu dân cư và kinh tế xã hội trong làng theo hướng phát triển.
+Việc xây dựng các công trình công cộng của làng xã thì sử dụng một phần kinh phí do bán đấu thầu đất và cho thuê các cơ sở sản xuất tập thể không còn phát huy hiệu quả.