Thực tiễn và một số quan điểm lý luận trong quá trình phát triển

       Công tác nghiên cứu về nhà ở nỗng thôn đã được thực hiện từ những năm của thập kỷ 60 khi phong trào hợp tác xã nông nghiệp phát triển. Nó được thể hiện ngay ở trong nhà trường, khởi đầu do nhóm giáo viên và học sinh lớp kiến trúc sư (tiền thân trường Đại học kiến trúc ngày nay) dưới sự chỉ đạo của KTS Đàm Trung Phường, Vũ Tam Lang, Nguyễn Thế Bá v.v… cùng với một số học sinh khóa 61 mới ra trường tiến hành điều tra vẽ ghi khảo sát về nhà ở nông thôn cải tiến. Mục tiêu chủ yếu nhằm tổ chức lại không gian nhà ở nông thôn và các công trình phụ: nhà vệ sinh – giếng nước – nhà tắm và chuông trại một cách hợp lý. Công việc đang dở thì có chiến tranh: giặc Mỹ leo thang miền Bắc bắn phá dữ dội nên bị ngừng lại.
       Cũng trong thời gian đầu của phong trào hợp tác hóa nông nghiệp, Viện thiết kế quy hoạch và xây dựng đô thị nông thôn, Bộ Kiến trúc (nay là Bộ Xây dựng) đã tiến hành nghiến cứu và thiết kế thí điểm cải tạo làng xã nông nghiệp, trong đó có thiết kế thực nghiệm hàng chục mẫu nhà ở cho nông dân thôn Đào Viên,xã Dân Tiên thuộc huyện Khoái Châu, Hưng Yên bằng kinh phí bao cấp của Nhà nước. Các mẫu nhà ở này thiết kế theo phương hướng là tập thể hóa nên tất cả chức năng và không gian phục vụ hoạt động sản xuất ở trong khu vực nhà rất hạn chế (vì coi lĩnh vực này đã nằm ở khối tập thể đội, họp tác xã) chủ yếu là các không gian phục vụ cho sinh hoạt cá nhân hộ gia đình. Với phương chàm kinh tế, tiết kiệm diện tích do đó nhà ở thực nghiệm chỉ mới giải quyết được bố cục dây chuyền tương đối hợp vệ sinh, còn phần không gian sử dụng bị hạn chế rất nhiều và thiếu hẳn chức năng sử dụng cho sản xuất phụ trong nhà. Khi nhân dân đi vào sử dụng, họ đã tự sửa đổi đi nhiều, mẫu không còn nguyên dạng, và không dược xây dựng nữa.

      Tuy không giải quyết triệt để các nội dung thích ứng với yêu cầu của người dân nông thôn, những mẫu nhà xây dựng do nhà nước đầu tư xây dựng cho nông dân ở của Viện thiết kế quy hoạch và xây dựng nông thôn – Bộ Xầy dựng cũng đã đánh dấu một giai đoạn mà các nhà chuyên môn đã quan tâm đến kiến trúc nhà ở nông thôn bằng nguồn đầu tư của nhà nước. Việc cải tạo và xây dựng thực nghiệm nhà ở theo lô đất đã phần nào đưa văn minh ăn ở vào nông thôn cho người dân, đồng thời khảng định vai trò của chuyên môn kiến trúc xây dựng trong việc tổ chức xây dựng nông thôn mới.
       Vào những năm cuối của thập kỷ 70, hưởng ứng nghị quyết IV và sau này là nghị quyết V của Ban chấp hành Trung ương Đảng, cùng với việc quy hoạch đồng bộ xây dựng địa bàn cấp huyện theo các lĩnh vực khác nhau như bố trí lại sản xuất, xây dựng công trình hạ tầng, các công trình phục vụ công cộng. Nhà ở cũng được nghiên cứu theo hướng “Cải tạo lại mạng lưới dân cư trên địa bàn huyện… tổ chức đời sống ở nông thôn” (76).
       Công việc nghiên cứu về nhà ở lúc này chia làm hai loại: nhà tại các huyện lỵ và nhà ở các vùng hợp tác xã nông thôn.
– Nhà ở các huyện lỵ, thị trấn đưa ra một số mẫu “thiết kế giống các thành phố” (76).
– Nhà ở tại các làng xã nông thôn hợp tác xã thì chỉ chú trọng đến nhà ở nông thôn đơn thuần nông nghiệp. Các chức năng kinh doanh sản xuất trong nhà ở không được đề cập như một nhiệm vụ, vì thế các mẫu nhà đưa ra ứng dụng ít phát huy được hiệu quả, nhất là nhà ở tại các trung tâm tiểu vùng, trung tâm làng xã.
        Tuy vậy, với phong trào rầm rộ hướng về địa bàn cấp huyện, nhiều địa phương, nhiều cơ quan, viện, bộ, trường đã đưa ra được nhiều mẫu nhà ở cho các vùng khác nhau. Vê cơ bản vẫn chỉ có hai loại nhà chính: Mẫu nhà ở nông thôn thuần nông và mẫu nhà ở thị trấn kiểu thành phố (hình. I.36a, b). Mẫu nhà ở đã đi sâu vào các khía cạnh địa hình, khí hậu như: Nhà ở cho vùng ẩm thấp, nhà ở nông thôn vùng ngoại ô của KTS Đặng Tố Tuấn: Với khía cạnh xã hội học kiến trúc theo “không gian cho ba thế hệ ở” (64). Bằng phép biến đổi không gian linh hoạt, phù hợp với yêu cầu xê dịch của nhiều loại hộ ở (hình 1.37).
Sự nghiên cứu có tính chất độc đáo và chắt lọc nhất đó là “Cuộc thi quốc tế về Kiến trúc nông thôn”, có rất nhiều đề tài nghiên cứu về chủ đề này đã chứa đựng một giá trị nghệ thuật, khoa học về kiến trúc cao.