Thương nghiệp, dịch vụ nông thôn với kiến trúc ở nông thôn

Như đã nêu ở phần trên, thủ công nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc sản xuất hàng hóa cho dân cư làng xã. Mặt khác thủ công nghiệp cũng vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của việc phát triển mở rộng buôn bán, trao đổi hàng hóa.
Từ lâu chợ làng và phường hội buôn bán tồn tại ở khắp nơi khiến cho nông nghiệp và thủ công nghiệp hòa trộn với nhau, thống nhất bổ sung cho nhau phát triển. Theo nghiên cứu cúa Nguyễn Đức Nghinh và Trần Thị Hòa thì ở vùng Bắc bộ (trong phạm vi tỉnh Hà Nam, Nam Định, Thái Bình) cứ khoảng xấp xỉ 7km hoặc từ ba đến sáu làng có một chợ. Các chợ họp định kỳ theo phiên, mỗi phiên khoảng nửa ngày. Khoảng 3-5 chợ phiên họp thành một chu kỳ khép kín trong một tháng. Như thế trong một vùng 4 đến 7 làng với khoảng cách đi bộ cho phép ngày nào cũng có chợ (49). Chợ họp theo phiên lại chỉ họp nửa ngày nên cũng không đáp ứng được nhu cancàn thiết vào những ngày không có chợ, chính vì lý do đó mà sau này đã xuất hiện các điểm dịch vụ nhỏ tại các gia đình trong nhà ở nông thôn đây là mâm mống của nhà ở dân cư phi nông nghiệp.
Tuy vậy cũng có rất nhiều làng đã phát triển thành các làng buôn vào những năm của thế kỷ XVIII-XIX như làng Đa Ngưu, Phù Lưu, Báo Đáp v.v… Qua nghiên cứu của Nguyễn Quang Ngọc (49) đã nhận định : làng buôn không phải là hiện tượng ngẫu nhiên, cá biệt mà rõ ràng là một xu thế phát triển của nông thôn Việt Nam. Qua đó ta có thể thấy ràng buôn bán và dịch vụ có ảnh hưởng đến cơ cấu làng xã đã từ làu.
Chợ làng có trong chức năng dịch vụ của làng xã, nó tồn tại cùng với hệ thống cầu chợ, cầu hàng ở các làng quê Việt Nam, các công trình này như một cấu thành kiến trúc truyền thống mang tính chất dịch vụ tự cung tự cấp trong một phạm vi hẹp ở thôn quê (xem hình II.4a, b, c, d và II.5a, b, c, d).
Trải qua thời gian dài trong cơ chế quan liêu bao cấp, các hệ thống thương nghiệp dịch vụ truyền thống bị hạn chế thay thế bằng hệ thống hợp tác xã mua bán, nó cùng tồn tại với mô hình hợp tác xã nông nghiệp kiểu cũ. Mỗi làng xã có một đến hai hợp tác xã mua bán, dược xây dựng ở các trung tâm làng xã. Việc xây dựng các HTX mua bán nhằm thực hiện các chính sách phân phối theo kế hoạch cho nông dân, mặt khác cùng thu mua một cách có kế hoạch từ các hộ nông dân cho Nhà nước

. Hìnli ảnh v’ê sinh hoạt chợ ở làng quê truyền thống nông thôn
vùng đòng bằng Bắc bộViệt Nam

Một sô bô cục mặt bằng làng buôn truyền thống vùng đồng bằng Bắc bộ Việt Nam
a) Sơ đò làng Đan Loan ; b) Sơ đò làng Báo Đáp

Qua điều tra điểm ở một số làng xã thuộc huyện Thanh Oai, úng Hòa (Hà Tây) Tiên Sơn (Bắc Ninh), Phú Bình (Thái Nguyên), Bình Lục, Vụ Bản (Nam Định) ta thấy các cơ sở vật chất như cửa hàng, nhà kho HTX mua bán tập thể vẫn còn, nhưng hầu hết chia, khoán cho các hộ xã viên thầu. Chức năng, tổ chức kiến trúc biến đổi rất đa dạng, phục vụ cho các mặt dịch vụ hàng ngày của nông dân như hàng tiêu dùng tổng hợp, hàng ăn uống, hàng vật liệu xây dựng, hàng dịch vụ sản xuất nông nghiệp, cây con giống, dịch vụ sửa chữa dụng cụ gia đình, máy nông nghiệp v.v… (xem ảnh hình II.6 a, b, c ; II.7a, b, c, d và II.8a, b, c, d).
Điều đặc biệt là tất cả chức năng dịch vụ này đến nay đã đi vào ngay tại nhà ở của một số hộcó điều kiện kinh doanh; Với những nhà ở có sẵn thì họ tự thu xếp không gian cho phù hợp với chức năng phục vụ, mặt khác họ xây thêm hoặc cơi nới tạo không gian cho thích ứng. Việc chuyển chức năng từ ở và sản xuất nông nghiệp sang chức năng ở dịch vụ và sản xuất có tính chất phi nông nghiệp xuất hiện nhiêu từ khi có chủ trương phát triển kinh tế nhiêu thành phân. Do việc giao lưu hàng hóa và sản xuất, bẳn thân cư dân này được giao tiếp với bạn hàng, với môi trường văn minh đô thị, với đặc tính nghề nghiệp, đã ảnh hưởng trực tiếp trong sinh hoạt và làm việc, vì vậy xét về mặt ở và kinh doanh của họ một plĩàncó lối sống đô thị, phàn kia vẫn còn lối sống nông thôn.
Tùy đặc điểm của mỗi làng mà chức năng dịch vụ có quy mô lớn hay nhỏ, nhưng tất cả đều xuất hiện một cách manh mún, tự nhiên và tự điều tiết cho phù hợp với hòan cảnh cụ thể.
Đây là loại thành phần dân cư mới xuất hiện trong làng xã, song về nguồn gốc, thực thể mối quan hệ họ vẫn ở làng. Xét về vai trò, họ sẽ là động lực cho sự phát triển kinh tế – xã hội ở nông thôn, là cầu nối văn minh đô thị với nông thôn truyền thống (xem sơ đồ mối quan hệ hình III.2c).
Cũng do nhu càu căn thiết theo hướng phát triển của thành phàn dân cư mới này, đòi hỏi phải xây dựng tại làng xã một môi trường ở mới phù hợp với cách ở và làm việc của họ, vừa mang chức năng truvển thống ở nông thôn lại mang chức năng mới phi nông nghiệp – kiểu ởđô thị.